Thợ tre, nghề của một thời xa vắng

07 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 3380)

QUẢNG NAM -Nói đến nghề thợ tre, có lẽ người cao niên sẽ hình dung những mái nhà tranh với phên liếp đất bùn, với khói bếp phất phơ chiều và những tháng ngày cơ cực nhưng lại ấm áp tình người, tình quê.

 

blank

Một thợ tre tên Lựu đang chuẩn bị lợp nhà, có lẽ anh Lựu là thợ tre trẻ nhất trong làng nghề hiện nay. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)

 

Cùng số phận với những mái nhà tranh, người thợ tre sắp đi vào quá vãng, mỗi câu chuyện của họ giống như một tiếng thở dài của ký ức...

 

Ông Ba Đáng, năm nay 79 tuổi, hiện sống tại Điện Bàn, Quảng Nam, thời trẻ nổi tiếng là thợ tre giỏi, khi về già chép miệng tiếc nuối: “Dường như cái thời ấy qua mất rồi, Cái thời con người sống đầy tình nghĩa, tuy nghèo mà sang trọng...”

 

“Nói nghèo mà sang trọng vì thời đó con người sống nhiệt tình, giàu nhân ái và lòng tự trọng rất cao, cũng chính ví có lòng tự trọng mà người thợ tre thấy yên tâm và hạnh phúc khi đi làm nhà cho một ai đó, cái tình cảm giữa chủ nhà và người thợ rất sang, không bị xem rẻ như bây giờ!”

 

“Thời bây giờ, nghề thợ tre vẫn sống được, thậm chí có thể kiếm tiền tốt hơn thời xưa cho dù người ta ít ai ở nhà tranh. Nhưng bù vào đó, thợ tre rất hiếm, mốt ở nhà tranh là của mấy tay đại gia, trọc phú, hoặc các khách sạn, quán cà phê... Nên chi dễ kiếm tiền. Nhưng không hiểu sao bây giờ tôi lại thấy chán, chẳng muốn đi làm nữa!”

 

Nghề thợ tre có cái độc đáo riêng mà có lẽ những nghề khác ít đòi hỏi khắt khe như nó. Về dụng cụ làm việc, gồm đục các loại, cỡ khác nhau, đục chàn, đục tròn, đục vuông, đục dẹt, cưa, mũi khoan, mác, câu liêm. Chỉ bấy nhiêu đồ nghề nhưng lại làm nên được rất nhiều thứ, từ cái thúng, cái mủng đựng lúa, đựng rau, đến cái nơm, cái đó bắt, kéo cá cho đến cái chuồng heo, cái nhà...

 

Ông Được, 63 tuổi, từng là một anh lính Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa, sau 1975 một thời gian, làm một thợ tre có cuộc đời phiêu bạt từ Huế ra Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa rồi ngược lên Đaklak, Gia Lai, Đakmil, cuối cùng, mỏi gối chồn chân quay về xứ cũ Quảng Nam cùng cái nghề thợ tre và tài đánh tranh không ai sánh nổi.

 

Kể về cuộc đời thợ tre phiêu bạt của mình, ông Được nói: “Nói về đánh tranh thì tôi thuộc hàng số dách, mỗi ngày tôi đánh được từ một trăm đến một trăm hai mươi tấm tranh rạ, tranh săn thì từ một trăm hai mươi đến một trăm rưởi tấm, nghề thợ tre nó có cái thú vui, hồn vía riêng của nó, thậm chí, với tôi, tôi quan niệm anh phải có tâm hồn nghệ sĩ, phải sáng tạo, phải xê dịch kia mới làm thợ tre giỏi.”

 

 blank

Ông Được nói rằng đánh tranh với ông bao giờ cũng vui như người nhạc sĩ sáng tác nhạc vậy. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)

 

“Vì đây là nghề thủ công hoàn toàn, không dựa vào máy móc, hễ đụng đến máy móc thì sản phẩm trở nên thô cứng và vô hồn ngay tức khắc, gần đây người tra mở nhiều nhà máy sản xuất bàn ghế mây tre, rồi làm nhà tranh bằng kỹ thuật máy móc, kết quả cho ra sản phẩm cực kỳ vuông vức nhưng lại vô hồn, chẳng còn nét dân dã, mộc mạc, mất hẳn cái hồn quê kiểng của nó.”

 

Không hiểu sao, cũng giống như ông Ba Đáng và ông Được, nhiều người thợ tre có nghề cao cường đều có xuất thân từ những người lính Việt Nam Cộng Hòa, sau 1975, họ chọn nghề thợ tre để làm kế sinh nhai qua ngày đoạn tháng và cũng là để thác cái chí tang bồng một thưở...

 

Thu nhập bấp bênh

 

Ông Hoàng, một thợ tre khác ở Thăng Bình, năm nay 85 tuổi, cho biết: “Ở cái tuổi già như tôi, lẽ ra người ta đã nghỉ dưỡng lão, nhưng tôi vẫn cứ phải mong ngóng ai đó kêu mình đi làm cho cái nhà, cái chuồng bò hoặc đan cho cái rổ, cuộc sống còn lắm bấp bênh, trớ trêu...”

 

“Ngày xưa chỉ có nhà nghèo mới cất nhà bằng tranh tre, vách đất mà ở, nhưng thời đó thợ tre lại có chỗ để sống, mặc dù thợ tre đi đụng đầu, còn bây giờ, thợ tre hiếm lắm, nhà giàu có mới chơi mốt nhà tranh để khác người, để nghỉ mát, nhưng nghiệt nỗi thợ tre lại đói khổ, âu đó cũng là cái nghịch lý thời xã hội chủ nghĩa!”

 

Nghe chúng tôi thắc mắc về nghịch lý thời xã hội chủ nghĩa, ông Hoàng nói: “Thì hồi đó, nhà giàu như các địa chủ không ở nhà tranh mà xây nhà lợp ngói âm dương để ở, dân nghèo thì ở nhà tranh, mà dân nghèo thì lúc nào cũng tốt bụng, có khi đi làm cả tháng cho họ, thấy họ nghèo quá, mình ăn cơm với họ, không lấy đồng nào cũng vui. Còn bây giờ thì quan chức mới chơi nhà tranh, nhưng họ lại vô cảm, chẳng có cái tình người như dân nghèo.”

 

“Mỗi ngày công của thợ tre bây giờ chỉ bằng hai phần ba thợ hồ, hiện tại, thợ hồ là một trăm năm mươi đến một trăm tám mươi ngàn đồng, nhưng thợ tre chỉ có một trăm đến một trăm hai mươi ngàn đồng, khó sống, nhưng thú thực là yêu nghề nên cứ làm cho qua tháng qua ngày.”

 

Đương nhiên, cách nói của ông Hoàng, ông Được, ông Ba Đáng đều có cái lý của nó và cũng có giấu đi một phần trắc ẩn nào đó, ví như chuyện yêu nghề, muốn làm ra những tác phẩm tre đẹp mắt là có thật, nhưng vì yêu nghề mà bảy tám mươi tuổi vẫn còn gắng gượng đi làm thì e rằng chưa chính xác.

 

 blank

Ông Ba Đáng cùng tuổi già bềnh bồng nghề thợ tre. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)

 

Bởi những ông thợ tre già này có thể truyền thụ tinh hoa cho lớp học trò để họ tiếp tục phát huy. Nghiệt nỗi, thời của thợ tre dường như đã thuộc về quá vãng, mặt dù Việt Nam là một đất nước mạnh về ngành tiểu thủ công nghiệp, trong đó có mây tre.

 

Nhưng chính cái cơ chế cào bằng ngành nghề, đầu tư tràn lan, không chú trọng chiều sâu văn hóa, thậm chí là không có văn hóa trong kinh doanh, ứng xử, làm ăn xổi ở thì của các làng nghề, đặc biệt là nạn tham nhũng, móc ngoặc trong thủ tục thành lập làng nghề đã khiến rất nhiều làng nghề bị mất dấu đặc trưng.

 

Và nỗi buồn của những người thợ tre cũng là nỗi buồn đánh mất đặc trưng của làng nghề thủ công Việt Nam trong thời đại mà con người quá coi trọng đồng tiền, nặng về hình thức và vô cảm, vô hồn cùng cái thể chế chính trị bao phủ lên nó.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Xưa nay chỉ thấy tô phở bò, gà theo chân người Việt tỵ nạn tràn lan và nổi danh toàn thế giới; còn tô hủ tiếu quê mình hình như đã tàn phai nhan sắc. Chớ hồi xưa trong nước, nhứt là Lục tỉnh Nam Kỳ tô hủ tiếu quê mình vẫn vô địch quyền vương, độc cô cầu bại. Tô phở Bắc mon men về tới cái đất Mỹ Tho danh trấn giang hồ về hủ tiếu cũng đành phải chịu xếp ve luôn. Mỹ Tho có cả hàng chục tiệm hủ tiếu chỉ loe ngoe vài ba tiệm phở tái, nạm, gầu… Phở Bắc chỉ làm ‘đại ca’ trên chốn giang hồ Sài Gòn, ngay cả vô Chợ Lớn cũng phải chào thua. Hủ tiếu là của người Tàu, người Quảng Đông; còn người Triều Châu thì ăn hủ tiếu bò vò viên, tức ‘ngầu dục viễn’! Nổi tiếng nhứt là hủ tiếu Mỹ Tho! Nó khác với hủ tiếu Nam Vang, phở Bắc, bún bò Huế, bún mắm Sóc Trăng. Hủ tiếu Mỹ Tho của người Quảng Đông nhưng bánh hủ tiếu lại do người Việt ở Gò Cát, bên bờ kia sông Bảo Định, vùng ven thành phố Mỹ Tho làm.
Trong thời gian làm việc tại Việt Nam vừa qua, tôi viết rất nhiều về kỹ năng, phẩm chất, và chia sẻ nhiều công cụ giúp các bạn trẻ phát triển bản thân. Tuy nhiên, tôi nhận thấy có rất nhiều trường hợp bản thân các bạn trẻ không biết mình thiếu kỹ năng gì, hoặc tưởng là mình đã có kỹ năng rồi, nên không có kế hoạch rèn luyện. Hôm nay, đứng từ góc độ ngược lại của người sử dụng nhân sự, tôi muốn chia sẻ với các bạn những triệu chứng bệnh thường ngày tại nơi làm việc mà tôi ghi nhận được. Những căn bệnh này chính là nguyên nhân gây ra sự mất tập trung, cản trở việc phát triển bản thân. 1. Bệnh im: do lớn lên trong môi trường giáo dục thụ động, người Việt đã quen nghe và im. Khi bắt đầu làm đi làm, thói quen này trở thành bệnh. Sếp giao việc xong, làm xong không xong cũng im. Gặp vấn đề giữa chừng không giải quyết được cũng im. Sếp không hỏi tới thì im luôn, cho qua.
– Bia ôm: Đàn ông nhân danh đi uống bia nhưng vào bar rồi lại uống ít mà tay chân thì làm việc nhiều. Các em chiêu đãi tự nhiên như người Hà Nội, mở bia lia lịa, giấu dưới bàn, đổ ra sàn gạch… rồi khổ chủ cứ tự nhiên trả tiền trước đứng dậy ra về mà… vẫn sướng! – Cà-phê ôm: Hình thức gần giống như bia ôm, nhưng một ly cà phê có thể lên hàng chục ngàn đồng nếu biết lợi dụng câu giờ ôm và tận tình thám hiểm thì không đến nỗi phí tiền phí bạc! Mvznymk – Karaokê ôm: Chưa có thú tiêu khiển nào thanh lịch và văn minh hơn hình thức ôm nầy. Khách vào mở nhạc, miệng hát mà tay chân thì làm việc thoải mái… đến một lúc nào đó chẳng biết mình đang hát cái gì và hát đến đâu nữa thì, một là ra về, hai tiếp tục dẫn em lên thiên thai hay đi xuống địa ngục!…
Facebook Bây giờ đa số ai cũng chơi Facebook. Facebook phổ biến đến nỗi người già, người trẻ ai cũng có riêng một trang FB. Thói quen hay bệnh mê FB đến một cách tự nhiên đầy quyến rũ làm điên đảo con người. Buổi sáng vội vã vào FB xem một lượt có gì mới không, like cho bạn bè vài cái. Buổi trưa trong giờ nghỉ ngơi vừa ăn vừa bấm FB, gửi vài cái hình góp mặt bạn bè. Buổi tối "lướt phây", messenger bấm bấm chuyện trò say sưa quên cả thời gian. Nấu món gì ngon trước khi cho chồng cho con ăn, cho FB ăn trước. Trang trí cho thật mỹ thuật, chụp vài tấm hình gửi ngay vào FB rồi chốc chốc mở xem bạn bè có comment gì không để trả lời. Có ai khen bấm "Thank you" kèm cái hình có con vật nhảy nhảy, cái bông lắc lư hoặc cái mặt cười rạng rỡ.
Nói đến tuổi già thì ai mà không băn khuăn, lo nghĩ. Già có nghĩa là ốm yếu, bệnh hoạn, xấu xí, mất năng lực, không còn hữu dụng, mất khả năng, phải trong cậy vào người khác, nghèo khó, buồn nãn, cô đơn trong căn phòng hiu quạnh ngày nầy qua ngày nọ để chờ đến lúc ra đi theo ông theo bà...
Đời người dài ngắn cũng chỉ có trăm năm. Trên hành trình ấy, 20 tuổi là sống với thanh xuân, 30 tuổi là sống cùng sự nghiệp, 40 tuổi thì sống bằng trí tuệ, còn 50 tuổi mới thực sự là cuộc sống đích thực của mỗi người. Đàn ông tuổi 50… Đối với nam giới, bước vào tuổi 50 là bước vào độ tuổi có phong thái trọn vẹn nhất. Thấu hiểu và sâu lắng, chín chắn lại điềm nhiên, trên nét mặt của họ thường mang nét ung dung, khoáng đạt, thể hiện sự trưởng thành sau khi đã vượt qua trăm điều cay đắng của đời người. Chỗ đứng của người đàn ông là sự nghiệp. Nếu công việc có thể thử thách năng lực, thể nghiệm sự tài hoa, tôn vinh giá trị của bản thân, và khiến họ phải một mình gánh vác mọi trọng trách, vậy thì công việc ấy chính là nơi họ gửi gắm trọn vẹn tinh thần, là toàn bộ vốn liếng và là một phần trong cuộc đời của họ.
Vợ tôi còn 69 ngày , 96 tiếng nữa là gia nhập Hội người cao tuổi, nhưng mụ bảo không thích vào cái Hội ấy vì mụ nghĩ mình còn trẻ.Tôi và mụ đã có cháu nội, cháu ngoại, con dâu , con rể đầy đủ. Cả tôi và mụ cũng không còn trẻ trung gì, cả một đời mụ vất vả vì chồng con nên nhan sắc cũng tàn tạ theo tháng ngày…Vả lại mụ không phải là típ người giữ được dung nhan “vượt thời gian”, nhìn cũng thương! Con người ta có nhiều cách để níu kéo thanh xuân nhưng cách của mụ thì không thể chấp nhận được… Mới đây, con gái tặng mụ một chiếc xờ-mát-phôn rất hiện đại, nó còn cài đặt cả phần mềm chỉnh sửa ảnh rất chuyên nghiệp, khỏi nói mụ vui như thế nào, mụ cười toe toét… Từ ngày có cái xờ-mát-phôn mới, mụ xao nhãng nhà cửa. Buổi sáng, mụ đi tập thể dục quanh hồ với hội bạn già đến tận trưa mới về vì các mụ bận seo-phì.
Hôm trước, trở trời, bị cúm nặng, ê mình. Thế là mình tự than thở: ôi, già tới nơi rồi! Nói nhỏ, nhõng nhẽo với bà xã một tí. Chúng ta, ai cũng già. Tôi cố tình bỏ đi chữ “sẽ”, vì đó là sự thật hiển nhiên không thể tránh khỏi. Một sự thật khác, hầu hết mọi người đều không thừa nhận…sự thật về tuổi già,
Nhiều người Việt Nam và Tàu (Trung Quốc) có cùng một suy nghĩ giống nhau: Đó là hay cười nhạo người Tây phương ngu ngốc, không hiểu chuyện đời, “não không có nếp nhăn, ” và bản thân họ lấy làm tự mãn. Vậy rốt cuộc thông minh theo kiểu người Việt Nam và Tàu Trung Quốc là như thế nào? (HN) (*) Tác giả bài này là một người đang sống trong nước cho nên quý vị đọc sẽ thấy nhiều chữ hơi “lạ”! (TVG)
Người Mễ tánh tình cởi mở và thân thiện, gặp là Como esta Senõr rối rít cả lên. Họ dù có giấy tờ hợp lệ hay không đều chịu khó làm những công việc vất vả nặng nhọc, mà các sắc dân khác không ai thèm làm kể cả người da đen. Tôi không thể tưởng tượng được nếu không có người Mễ thì xứ Mỹ này ra sao .....31 Tháng Năm 2012 (Xem: 4368) Tân Ngố
Bảo Trợ