Tin mừng Chúa Nhật Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô

07 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 8192)

Chú giải và chia sẻ Tin mừng Chúa Nhật Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô – năm B

blank

A. BẢN VĂN (Mc 14,12-16.22-26):

 

12 Hôm ấy, nhằm ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua, các môn đệ thưa với Đức Giê-su: “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”13 Người sai hai môn đệ đi, và dặn họ: “Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó.14 Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn: “Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?15 Và ông ấy sẽ chỉ cho các anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng: và ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta.”16 Hai môn đệ ra đi. Vào đến thành, các ông thấy mọi sự y như Người đã nói. Và các ông dọn tiệc Vượt Qua.

22 Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy.”23 Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này.24 Người bảo các ông: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người.25 Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa.”

26 Hát thánh vịnh xong, Đức Giê-su và các môn đệ ra núi Ô-liu.

blank

B. CÁC BÀI CHÚ GIẢI


Con Chỉ Là Tạo Vật

Bài 1. Chú giải của Lm PX Vũ Phan Long, ofm: Chuẩn bị tiệc vượt qua và khai mạc giao ước

1- Ngữ cảnh

Phụng vụ hôm nay đưa chúng ta đến bữa ăn cuối cùng Đức Giêsu chia sẻ với các môn đệ. Đây là một trong nhiều sự cố đã xảy ra kể từ khi Đức Giêsu đến Giêrusalem (x. 11,1). Tuy nhiên, bữa ăn này có một giá trị đặc biệt, vì đây là một bữa tiệc Vượt Qua, trong đó Đức Giêsu sẽ ký kết giao ước mới trước khi đi vào cuộc Thương Khó.

2- Bố cục

Bản văn có thể chia thành hai phần:

1) Chuẩn bị tiệc Vượt Qua (14,12-16);

2) Khai mạc giao ước (14,22-26).

3- Vài điểm chú giải

- Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua (12): Theo truyền thống Kinh Thánh, lễ Vượt Qua (Pesach) được cử hành vào chiều ngày 14 Nisan (“Nisan” là tháng thứ nhất của năm) và chính ngày lễ là 15 Nisan, còn lễ Bánh Không Men (lễ Matzoth), kéo dài thành bảy ngày, lại bắt đầu vào đúng ngày 15 Nisan. Vì hai đại lễ này quá gần nhau, chẳng mấy chốc lễ Bánh Không Men đã được gọi là lễ Vượt Qua, và kéo dài trong bảy ngày và bắt đầu với đêm lễ Vượt Qua, và phụng vụ cũng gọi đêm lễ Vượt Qua ấy là “lễ Bánh Không Men”. Chiên và bánh không men là lương thực biểu tượng của lễ mùa xuân. Cả hai thứ này nói lên sự tái sinh và đời sống mới[1].

Truyền thống kinh sư quy định việc sát tế chiên bắt đầu sau khi đã dâng hy lễ chiều ngày vọng, nghĩa là vào khoảng 14g30, tức trước khi ngày thứ nhất bắt đầu vào lúc mặt trời lặn. Nếu lễ Vượt Qua rơi vào ngày thứ bảy, thì bắt đầu sát tế chiên sớm hơn 1 giờ. Nhưng tác giả Mc quan tâm đến độc giả gốc ngoại giáo, ông cho bắt đầu ngày bằng ban sáng (14,17: “chiều đến”, các ngài dùng bữa), “ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men”, tức là đúng ngay ngày 15 Nisan.

Nhận định tổng hợp là: Bản văn Mc xác định Bữa Tiệc cuối cùng chính là bữa tiệc Vượt Qua, tức đúng ngày 15 Nisan; các tác giả Nhất Lãm khác cũng theo thời gian biểu của Mc. Còn Ga 19,14 lại đặt cái chết của Đức Giêsu vào chiều ngày 14 Nisan và như thế làm cho bữa ăn tối cuối cùng trở thành một bữa ăn tiền-Vượt Qua. Thời gian biểu của Gioan có lẽ đúng hơn, bởi vì khó mà cho rằng các thượng tế và các kinh sư lại hành động như ta đã biết vào ngày thứ nhất của lễ Vượt Qua. Khi biến bữa Ăn tối cuối cùng thành một bữa tiệc Vượt Qua, tác giả Mc nhắm kéo cái chết của Đức Giêsu vào gần hơn nữa với các đề tài lớn của lễ Vượt Qua là hiến tế và giải phóng. 

- dọn cho Thầy ăn lễ (12): Có nhiều việc phải làm: tìm một nơi thích hợp, giết chiên, chuẩn bị bánh không men, sắm các đồ dùng vào bữa tiệc. Các dân cư Giêrusalem rất sẵn sàng giúp cho các khách hành hương có chỗ mà ăn lễ. Nhưng ở đây, tác giả Mc không muốn nói tới điểm này, ngài muốn nêu ra một chuyện lạ lùng.

- một người mang vò nước (13): Các môn đệ được cho một dấu chỉ để có thể chu toàn nhiệm vụ, nhưng đây lại là một dấu chỉ của đời thường: một người mang vò nước thì ta có thể gặp bất cứ lúc nào trong Giêrusalem. Tuy nhiên dấu chỉ này cho hiểu rằng hành trình đưa Đức Giêsu đến cuộc Thương Khó được tiên liệu đến từng chi tiết. 

- một phòng rộng rãi trên lầu (15): Khi cử hành lễ Vượt Qua, ít ra có khoảng mười người họp lại với nhau, nên sách Mishna quy định là phải có một không gian 10×10 “khuỷu tay” (tức khoảng 23m2). Khi ăn tiệc, người ta nằm dài để diễn tả là dân chúng đã ra khỏi kiếp nô lệ Ai Cập và đã được tự do; ngay cả người nghèo nhất cũng ăn tiệc Vượt Qua trong tư thế này.

- dâng lời chúc tụng (22): Với cách hành động này, ta có thể nói đây là bữa tiệc Vượt Qua hay bữc tiệc bằng hữu cũng được. Trong bữa tiệc Vượt Qua, phải có trước tiên lời chúc tụng về ngày lễ, rồi chén rượu đầu tiên, các món khai vị là rau đắng và trái cây, suy niệm về lễ Vượt Qua, rồi chén rượu thứ hai. Phần chính của bữa ăn bắt đầu với lời chúc tụng trên bánh không men. “Cầm lấy, dâng lời chúc tụng, bẻ ra” là những từ ngữ chuyên môn của lời kinh người Do Thái đọc trước khi ăn. Rất có thể người Do Thái nghĩ rằng miếng bánh được trao cho họ, do ông chủ bẻ ra từ tấm bánh lớn, đưa lại phúc lành cho mình.

- đây là mình Thầy… Đây là máu Thầy (22.24): Vì từ ngữ “mình” (sôma) là một từ nói quanh để chỉ bản thân con người, câu này có thể diễn lại là: “Đây là chính Thầy”. Những ai ăn tiệc thì được hiệp thông cách mới mẻ với Đức Giêsu. Dựa vào c. 24 nói về chén rượu, ta hiểu là đây là sự hiệp thông với Đấng đang đi tới cái chết. Từ ngữ sôma, vì ở trong thế song đối với “máu đổ ra”, có nghĩa là thân thể dâng làm hy lễ.

- Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn (23): Trong tiệc Vượt Qua, giữa lời chúc tụng trên bánh và lời chúc tụng trên rượu, có việc ăn thịt chiên. Theo sách nghi thức, đây là chén rượu thứ ba. Ta lưu ý là tác giả Mc đã chuyển đi từ “dâng lời chúc tụng (eulogein)” sang “dâng lời tạ ơn (eucharistein)”, trong khi trong bữa tiệc Do Thái, cả hai lần đều là “lời chúc tụng”. Có thể công thức này đã được chọn vì người ta đã nghĩ tối kết thúc bữa ăn. Nhưng rất có thể tác giả muốn gợi tới bữa tiệc Thánh Thể (eucharistia).

- tất cả đều uống (23): Chi tiết này đến quá sớm, vì sau đó Đức Giêsu còn giải thích ý nghĩa của rượu. Trong một ngữ cảnh rộng hơn, từ “tất cả” đây nhìn tới trước tình cảnh “tất cả” sẽ vấp ngã (14,27.50). Việc tham dự vào bữa tiệc không giữ cho người ta khỏi vấp ngã vào giờ quyết định.

- máu giao ước, đổ ra vì muôn người (24): “Máu giao ước” nhắc đến Xh 24,8. Trong đoạn văn này, sau khi dân đã cam kết giữ luật và sau hy lễ, Môsê rảy máu các tế vật lên dân và nói: “Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này”. Ngay sau đó ông dùng mộtbữa tiệc huynh đệ với các vị kỳ mục của dân (Xh 24,11). Nhờ cái chết của Đức Giêsu, một giao ước mới được thiết lập, thay thế giao ước thứ nhất. Máu Đức Giêsu đi vào thế đối lập tiên trưng với máu giao ước cũ. Theo Dcr 9,11, các tù nhân được phóng thích “nhờ máu của giao ước này”. Việc khai trương giao ước đưa lại sự cứu chuộc và cứu độ. “Máu đổ ra” đồng nghĩa với “bị giết”, bởi vì theo một quan niệm của Kinh Thánh, máu được coi là mang sự sống và sức sống. Từ đó ta hiểu rằng chén được dâng đảm bảo có sự hiệp thông với Chúa, Đấng hiến mình trong cái chết. “Đổ ra”, ekchêô, được dùng thường xuyên để nói về máu con vật được đổ ra (Lv4,7.18.25.30.34…) và việc rưới rượu (Is 57,6).

Câu “đổ ra vì muôn người” (dịch sát là “đổ ra vì nhiều người”) nhắc đến Is 53,12 và đưa lại cho hành vi một chiều kích hy tế. Hai đoạn văn Cựu Ước này được dùng để diễn tả cái chết của Đức Giêsu như là một hy lễ vì những người khác. Cụm từ hyper pollôn, “vì nhiều người”, dựa trên kiểu nói sê-mít đặc biệt của Is 53,12 (rab), có nghĩa là “tất cả” / đoàn người đông đảo”, chứ không chỉ là “một số người”; đây là toàn thể thế giới ngoại giáo (x. Người Tôi Trung được gọi là “ánh sáng cho các dân” [x. Is 42,6; 49,7t]). Như vậy, “nhiều” đây không đối lập với “tất cả”, nhưng có nghĩa là “tất cả là nhiều”[2]

- chẳng bao giờ Thầy còn uống … trong Nước Thiên Chúa (25): Câu kết thúc này đặt Bữa Tiệc Ly trong khung cảnh là bữa tiệc thiên sai (x. 6,35-44; 8,1-10). Thay vì coi bữa tiệc cuối cùng này (và Tiệc Thánh Thể) là một biến cố cô lập, cần phải liên kết nó với các bữa ăn Đức Giêsu đã chia sẻ trước đây với những người thu thuế và tội lỗi (x. 2,16) và với bữa tiệc cánh chung tương lai.

- Hát thánh vịnh xong (26): Đây là khối Tv 113–118, thường được gọi là Tập Hallel nhỏ. Tập Hallel này này có một vị trí đặc biệt trong ba đại lễ Vượt Qua, Ngũ Tuần và Lều.

4- Ý nghĩa của bản văn

* Chuẩn bị tiệc Vượt Qua (12-16)

Bữa tiệc có một tầm quan trọng lớn lao trong Tin Mừng. Tác giả Mc thường xuyên cho thấy Đức Giêsu ngồi vào bàn ăn với các môn đệ, với những người tội lỗi và với dân chúng. Biến cố cuối cùng trước Thương Khó cũng vẫn là một bữa tiệc: Đức Giêsu cùng với Nhóm Mười Hai cử hành tiệc Vượt Qua. Trong sự hiệp thông đức tin và đạo giáo Israel, các ngài cử hành lễ trọng nhất của dân tộc mình. Bằng bữa tiệc Vượt Qua, dân Israel nhắc lại cách Thiên Chúa đối xử với các tổ phụ và được canh tân trong niềm tin đầy tri ân, vui tươi và vững vàng đặt nơi Thiên Chúa.

Các môn đệ được phái đi chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ cuối cùng của Đức Giêsu với các môn đệ trên bối cảnh là bữa tiệc và nội dung của đại lễ Vượt Qua như thế.

Các môn đệ đã đi vào thành và gặp một người mang vò nước đón mình. Các ông đã chuyển giao sứ điệp: “Thầy nhắn: «Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?»”. Đây là lần duy nhất danh xưng “Thầy” (didaskalos) được Đức Giêsu dùng để nói về mình, vừa với nghĩa là “vị thầy truyền đạt kiến thức”, vừa theo nghĩa là “bậc đáng kính”; điều này còn được khẳng định bởi cụm từ “các môn đệ của tôi” chỉ được dùng duy nhất ở đây. Tuy nhiên, chi tiết “người mang vò nước” lại chứng tỏ rằng hành trình đưa Đức Giêsu đến cuộc Thương Khó đã được tiên liệu trong từng chi tiết: Người biết và Người vâng phục (x. 11,1t). Như thế, bên cạnh sự cao cả của Người, là sự hạ mình khiêm nhường của Người. Ông chủ nhà sẽ dành cho các môn đệ một phòng lớn trên lầu trên (thường đây là phòng rộng nhất của căn nhà). Các môn đệ thấy mọi sự đúng y như Đức Giêsu đã nói trước.

* Khai mạc giao ước (22-26)

Tại bữa tiệc, trong bánh và rượu, Đức Giêsu ban cho các môn đệ thân mình và máu của Người. Đây là bữa tiệc từ biệt. Đức Giêsu sẽ bị giao nộp và bị giết, Người sẽ không đi đi lại lại trong xứ cùng với các ông, cũng không ăn tiệc với các ông như lâu nay nữa. Tuy nhiên, Người sẽ ở giữa các ông trong bánh và rượu; trong tương lai, đây sẽ là cách thức hiện diện của Người. Đức Giêsu từ biệt, tuy vậy, Người vẫn ở lại đó.

Máu mà Đức Giêsu hiến dâng trong chén rượu là máu của giao ước, được đổ ra vì muôn người. Tiếp nối vào cuộc giải phóng khỏi đất Ai Cập, được nhắc lại trong tiệc Vượt Qua, là việc ký giao ước tại núi Sinai. Đây không phải là một giao ước giữa các partner ngang nhau. Trước tiên giao ước này có đặc điểm là Thiên Chúa tự ràng buộc và tự cam kết là Thiên Chúa nhân ái của dân (x.Xh 20,1); và giao ước này hàm chứa cam kết của dân là tuân giữ các điều răn (x. Xh 20,3-17). Giao ước được đóng ấn, khi Môsê rảy máu tế vật lên bàn thờ và dân chúng (Xh 24,6-8). Với máu của Đức Giêsu, giao ước mới và vĩnh viễn được đóng ấn. Trong máu Người, trong hành vi hiến tặng mạng sống của Người, tình yêu của Thiên Chúa đối với thế gian được tỏ bày (x. Ga 3,16); nhờ máu Người đổ ra, “một đoàn lũ đông đảo” được giải thoát khỏi tội lỗi. Đức Giêsu không chỉ ở lại với các môn đệ, mà còn đặt nền tảng và đóng ấn cho sự hiệp thông của họ với Thiên Chúa.

Đức Giêsu tạng ban cho họ mình và máu Người. Mình và máu là toàn thể bản thân một người. Việc Người tặng ban mình và máu phải mãi mãi nhắc nhớ đến việc Người hiến tặng mạng sống, cái chết của Người trên thập giá. Đàng khác, bánh là lương thực hằng ngày nuôi sống con người, còn rượu chính là tiệc mừng trong niềm vui. Để sống được, loài người chúng ta cần lương thực. Khi ban tặng chính mình trong bánh và rượu, Đức Giêsu cho ta thấy rằng nhờ sự hiện diện của Người giữa chúng ta và nhờ sự hiệp thông của chúng ta với Người, chúng ta có sự sống ở mức viên mãn và trong niềm vui.

Trong những lời kết thúc (c. 25), Đức Giêsu lại nhấn mạnh rằng sự hiệp thông mà Người đã sống cho đến lúc này với các môn đệ đã đến lúc kết thúc: Người sẽ không uống thứ rượu trong tiệc mừng với họ như lâu nay Người vẫn làm nữa. Đồng thời, Đức Giêsu nói đến sự hoàn tất của sự hiệp thông này trong Nuớc Thiên Chúa, khi Thiên Chúa sẽ thiết lập và tỏ bày vĩnh viễn quyền chúa tể của Ngài ra.

+ Kết luận

Khi tường thuật truyện Đức Giêsu mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ, tác giả Mc đã cho thấy Đức Giêsu đã trung thành đi theo ý muốn của Thiên Chúa trong từng chi tiết. Do đó, bài tường thuật không chỉ để ghi nhận các sự kiện, nhưng mang tính tín lý. Tác giả đã liên kết Thương Khó với tiệc cuối cùng; với bữa tiệc này, cuộc Thương Khó đã bắt đầu vào lễ Vượt Qua. Lễ Vượt Qua của Đức Giêsu được ghi dấu ấn là cuộc Thương Khó của Người. Rất có thể từ ngữ paschakhiến tác giả Mc nghĩ đến ý nghĩa của từ Hy Lạp paschô (“đau khổ”); dĩ nhiên về từ nguyên thì không đúng, nhưng về thực tại thì có lý.

Đức Giêsu cũng bày tỏ sự trung thành với các môn đệ cho đến cùng, qua việc hiến tặng mình và máu Người trong bánh và rượu. Sự trung thành của Đức Giêsu, được tỏ hiện trong tất cả mọi hình thức hiện diện của Người, là điểm vững chắc duy nhất trong tương quan hỗ tương giữa Người với các môn đệ. Đức Giêsu luôn ở cùng chúng ta và cho chúng ta được hiệp thông của Người như cho một quà tặng. 

5- Gợi ý suy niệm

1. Đến cuối thời gian hoạt động, Đức Giêsu lại chia sẻ bữa tiệc Vượt Qua này với các môn đệ: bữa tiệc này nhắc lại lịch sử của quan hệ của Thiên Chúa với Israel và đưa tới chỗ hoàn tất. Đức Giêsu lại ăn tiệc với các môn đệ, như cách hiệp thông riêng tư với các ông. Tại đây mọi sự được quay hướng về các hình thái khác của sự hiện diện của Người giữa các môn đệ, về sự hiệp thông không cùng của họ với Người. Tuy nhiên, các môn đệ không thể tự ru ngủ mình trong sự an toàn; chính họ đã thấy định mệnh của Đức Giêsu là một chướng kỳ; chính họ đã không đủ sức liên kết với Người.

2. Trên thập giá, Đức Giêsu đã đổ máu ra; bằng cái chết của Người, Người đã thiết lập giao ước mới, tạo điều kiện cho có sự hiệp thông vĩnh viễn của Thiên Chúa với loài người. Đức Giêsu sẽ mãi mãi ở với họ và sẽ là Đấng Chịu đóng đinh đã hiến tặng mạng sống cho họ. Cho đến nay, Người đã ở giữa họ theo cách thấy được rõ ràng bằng mắt thường, kể từ nay, Người sẽ ở giữa họ trong bánh và rượu, trong tư cách Đấng Chịu đóng đinh, trong tư cách dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa và sự sống. Tất cả những điều này sẽ tới mức viên mãn khi Nước Thiên Chúa được tỏ hiện.

3. Hôm nay chúng ta đã quen coi truyền thống về bữa tiệc ly như là một thành phần thuộc cuộc Thương Khó. Điều này chính tác giả Mc đã nhắm: bữa tiệc này được quy hướng về thập giá và Phục Sinh. Bữa tiệc này kết thúc các bữa tiệc Đức Giêsu dùng với các người tội lỗi (2,15tt) và với dân chúng (6,35tt; 8,1tt) và đưa các môn đệ vào cuộc Thương Khó. Người Kitô hữu khi tham dự vào bữa tiệc Thánh Thể thì cũng đã được đặt trên cùng một nẻo đường. 

[1] J.J. Petuchowski, Le feste del Signore – Le tradizioni ebraiche (Dehoniane; Roma 1995) 25tt.

[2] J. Gnilka, Marco (Cittadella Editrice; Assisi 1998) 780; D.J. Harrington, “Mark, NJBC(1990) 626; M. Zerwick – M. Grosvenor, A Grammatical Analysis of the Greek New Testament (PIB; Roma 1996); xem ghi chú u cho Mt 26,28 của TOB (1994) khi dịch là “multitude” (x. BJ).
 

Bài 2. Chú giải và gợi ý suy niệm của Lm Inhaxiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa của ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Ki-tô hôm nay nêu bật giá trị của Giao Ước được đóng ấn bằng máu của tế vật.

Xh 24: 3-8

Sách Xuất Hành trình bày nghi thức Giao Ước được ký kết giữa Đức Chúa và dân Do thái. Giao Ước được đóng ấn bằng máu của tế vật, máu nầy được rảy trên hai phía ký kết: sự hiện diện của Đức Chúa, được biểu tượng bởi bàn thờ, và sự hiện diện của dân Chúa chọn, được biểu tượng bởi mười hai thạch trụ, đối diện với bàn thờ.

Dt 9: 11-15

Thư gởi tín hữu Do thái cho thấy hy tế Đức Kitô cao vời khôn ví so với các hy tế của Giao Ước Cũ, vì Đức Ki tô đã hiến dâng chính máu của mình để đóng ấn Giao Ước Mới.

Mc 14: 12-16, 22-26

Đoạn Tin Mừng Mác-cô tường thuật việc Đức Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể, hy tế của Giao Ước Mới.

BÀI ĐỌC I (Xh 24: 3-8)

Sách Xuất Hành tường thuật không chỉ cuộc “xuất hành ra khỏi” đất Ai-cập, nhưng còn kinh nghiệm tôn giáo mà dân Do thái đã kinh qua trong sa mạc. Chắc chắn Kinh nghiệm nầy minh xác kinh nghiệm mà các tổ tiên xưa kia của họ đã được hưởng. Chính khởi đi từ giây phút nầy, dân Do thái đã không còn cảm thấy mình là một dân không có cội nguồn, nhưng ý thức mình là dân được chính Thiên Chúa đích thân phù trợ. Tất cả những người, sau khi kinh qua một mặc khải huyền nhiệm, sống mặc khải nầy trọn cuộc đời của mình như thế nào, thì dân Ít-ra-en đã luôn luôn quy chiếu đến những biến cố Xuất Hành để hiểu lịch sử của mình và những mối liên hệ ưu tiên của mình với Thiên Chúa như vậy.

Họ đã ghi lại những mối liên hệ nầy bằng thuật ngữ Giao Ước, theo cách thức mà con người ký kết ở giữa nhau: Thiên Chúa đề nghị che chỡ bảo vệ họ và đòi hỏi họ tuân giữ vài điều kiện của Ngài (những đòi hỏi của Thiên Chúa cốt yếu được chứa đựng trong Thập Giới). Phía họ phải cam kết tôn trọng những điều kiện nầy. Tất cả những truyền thống liên quan đến Giao Ước Xi-nai đều định vị Giao Ước trong bầu khí uy nghi và trình bày Giao Ước trong khung cảnh cử hành phụng vụ.

Đoạn văn chúng ta đọc hôm nay tường thuật việc ký kết Giao Ước cách long trọng, theo một dị bản được khai triển nhất trong số những dị bản. Đây chính là dị bản mà Đức Giê-su sẽ quy chiếu khi thiết lập hy tế Giao Ước Mới. Dị bản nầy, thuộc truyền thống Ê-lô-hít (thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên), được tường thuật ở Xh 24: 3-8. Một dị bản khác, thuộc truyền thống Gia-vít (thế kỷ thứ mười và thứ chín trước Công Nguyên), được tường thuật ở Xh 24: 1-2 và 9-11. Trong khi truyền thống Gia-vít gợi lên việc ký kết Giao Ước qua một bữa ăn thánh trên núi Xi-nai trước thánh nhan Đức Chúa cùng với ông Mô-sê, ông A-ha-ron, các con trai của ông A-ha-ron và bảy mươi kỳ mục của dân Ít-ra-en, thì truyền thống Ê-lô-hít được trích dẫn hôm nay nhấn mạnh nghi thức rẩy máu trên bàn thờ và trên dân. Diễn tiến của nghi thức nầy rất đáng chú ý: nó loan báo sơ đồ của việc cử hành Thánh Thể: trước tiên, phụng vụ Lời Chúa, đoạn, phụng vụ hy tế.

1. Phụng vụ Lời Chúa

Từ trên núi xuống, ông Mô-sê, xướng ngôn viên của Đức Chúa, tường thuật cho toàn thể con cái Ít-ra-en quy tụ ở dưới chân núi Xi-nai biết “mọi lời của Chúa và mọi giới luật”. Dân chúng đồng thanh cam kết: “Mọi lời Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành”. Vì thế, “ông Mô-sê chép lại mọi lời của Chúa”.

“Mọi lời của Chúa” phải được hiểu là “Mười Lời” hay “Thập Giới”. Còn “mọi giới luật”chắc chắn quy chiếu đến các luật luân lý, xã hội và tế tự được trình bày trong các chương 20-23, được gọi dưới tên “Bộ Luật Giao Ước”, nhưng bộ luật nầy rõ ràng không được soạn thảo trong sa mạc; nó thuộc về thời kỳ đầu tiên khi dân Do thái định cư ở đất Ca-na-an, sau này được tháp nhập vào Thập Giới và đem lại cho Thập Giới những áp dụng thực tiễn.

Như chúng ta đã biết rồi, ông Mô-sê đã lớn lên trong cung điện Pha-ra-on và đã được đào tạo thành các thư lại. Ấy vậy, một trong những chức năng của các thư lại là ghi chép những bản hiệp ước. Một cách nào đó, ông Mô-sê làm như vậy khi xác định bằng văn bản những khoản Giao Ước mà dân Ít-ra-en sẽ phải tôn trọng. Mọi hiệp ước ở Đông Phương xưa đều được viết bằng văn bản và phải được công bố theo định kỳ.

2. Phụng vụ hy tế

Sáng hôm sau diễn ra hy lễ đóng ấn Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân Chúa chọn. Hai bên ký kết Giao Ước diện đối diện với nhau: sự hiện diện của Đức Chúa được biểu tượng bởi bàn thờ và sự hiện diện của Dân Ít-ra-en, vừa hữu hình vừa biểu tượng bởi mười hai thạch trụ đại diện mười hai bộ tộc Ít-ra-en.

Như vậy, những thạch trụ nầy sẽ là những chứng nhân muôn đời bền vững cho lời cam kết trung thành của dân Ít-ra-en. Cũng theo một cách như vậy, ở đại hội Si-khem, sau khi dân vào Đất Hứa, khi mà Giao Ước được long trọng cam kết lại, ông Giôsuê sẽ dựng một tảng đá lớn ghi nhớ muôn đời lời thề hứa trung thành của toàn thể con cái Ít-ra-en (Gs 24: 26-27).

“Rồi ông Mô-sê sai các thanh niên trong dân Ít-ra-en tiến dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò tơ làm lễ hiệp thông tế Chúa”. Các thanh niên mà ông Mô-sê chỉ định thực hiện hai loại hy lễ:

- Trước hết, “lễ toàn thiêu”. Như thuật ngữ chỉ cho thấy, tế vật được hoàn toàn hỏa thiêu dâng trọn vẹn lên Thiên Chúa. Đây là hình thức hy tế xưa nhất ở Ít-ra-en, tự nguồn gốc, mang đặc tính tạ ơn. Sau nầy, hy tế nầy trở nên thông thường; ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, lễ toàn thiêu được dâng tiến lên Đức Chúa hằng ngày.

- Tiếp đó, “lễ hiệp thông”. Nét đặc trưng của lễ hiệp thông chính là tế vật được làm thành một bữa ăn và mọi người cùng tham dự bữa ăn trước thánh nhan Thiên Chúa. Loại hy tế nầy nhằm tái lập những mối quan hệ hữu hảo giữa Thiên Chúa và các tín hữu của Ngài.

3. Nghi thức rảy máu

Nghi thức được mô tả theo sau là duy nhất trong toàn bộ Cựu Ước. Những súc vật bị cắt tiết cho máu hoàn toàn chảy ra hết. Điều nầy rất phù hợp với phong tục đặc biệt của dân Ít-ra-en. Nhưng máu nầy, thay vì được dành riêng cho chỉ mình Thiên Chúa như trong tất cả những hy tế khác, lại được tách riêng thành hai phần, sau đó, được rảy trên hai bên ký kết giao ước. Trước hết, ông Mô-sê rảy phần nữa máu trên bàn thờ đại diện Đức Chúa; phần còn lại ông rảy trên dân chúng; cuối cùng, ông lập lại lời hứa cam kết trung thành của dân: “Đây là máu giao ước Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời nầy”.

Sự thỏa thuận của hai phía được đóng ấn bằng máu: máu là biểu tượng của sự sống, chung chung được dành riêng cho chỉ mình Thiên Chúa, Đấng là nguồn sống, đem lại cho sự cam kết này một hình thức trang trọng nhất, cực thánh nhất mà người ta có thể tưởng tượng được.

Việc Đức Giê-su ban chính máu của mình để đóng ấn Giao Ước Mới mặc lấy một sự trang trọng còn lớn lao hơn nhiều, vì Đức Giê-su không chỉ đóng vai trò trung gian của giao ước như ông Mô-sê, nhưng Ngài còn là tế vật nữa. Không có một sự cam kết nào về phía Thiên Chúa đối với nhân loại lại triệt để tận mức đến như thế. Không một nghi thức hiệp thông nào giữa Thiên Chúa và nhân loại lớn lao hơn nghi thức của Giao Ước Mới được thực hiện trong Bí Tích Thánh Thể.

BÀI ĐỌC II (Dt 9: 11-15)

Thư gởi tín hữu Do thái là bản văn Tân Ước duy nhất giới thiệu Đức Kitô là Thượng Tế đích thật. Ngài là Thượng Tế nhưng cũng là tế vật. Vào ngày lễ Mình và Máu Chúa Kitô nầy, phụng vụ dâng hiến cho chúng ta một đoạn trích thư gởi tín hữu Do thái, ở đó tác giả cho thấy máu của Đức Ki tô cao vời khôn ví so với máu của tế vật dưới thời Giao Ước Cũ. Nhưng còn hơn nữa, tác giả nhấn mạnh rằng hy tế của Đức Kitô thuộc bản chất khác: một của lễ tự nguyện hiến dâng thuộc vào trật tự tinh thần và tính hiệu lực tinh thần của nó.

Chúng ta không biết tác giả của bức thư này là ai và ai là người nhận bức thư này (nhan đề: “Thư gởi tín hữu Do thái” được thêm vào sau này). Tuy nhiên, chắc chắn ông là một môn đệ hay một cộng tác viên của thánh Phao-lô; và người nhận phải là những Kitô hữu gốc Do thái, kỳ cựu trong đức tin, nhưng mất can đảm bởi những bách hại mà họ đang phải chịu. Dường như họ vẫn ôm ấp những hoài niệm về những nghi lễ uy nghi và trang trọng trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Đối với họ, nghi lễ Thánh Thể xem ra quá đơn giản.

1. Đức Ki tô, vị Thượng Tế của Giao Ước Mới

Tác giả đối chiếu chức tư tế của vị Thượng Tế Cựu Ước với chức tư tế của Đức Kitô. Những so sánh của ông cốt yếu được vay mượn ở nơi nghi thức lễ Toàn Xá diễn ra một năm một lần. Chỉ một năm một lần vào ngày đại lễ này, vị Thượng Tế bước vào nơi cực thánh của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và với máu của tế vật ông tiến hành các nghi thức xá tội để cầu xin Thiên Chúa tha thứ tội lỗi của chính mình và của toàn dân.

So sánh với sứ vụ của vị Thượng Tế nầy, sứ vụ của Đức Ki tô thật sự là cao vời khôn sánh, vì Đức Kitô là “vị Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai”. Qua những mô tả, tác giả sắp cho thấy những phúc lộc của thế giới tương lai nầy mà Đức Kitô đã đạt được là như thế nào: đó là những phúc lộc muôn đời bền vững, đã được hứa ban và từ nay đã đạt được một lần thay cho tất cả; tức là những phúc lộc thần thiêng chứ không vật chất và bên ngoài.

Sự cao cả của sứ vụ của Đức Kitô được nêu bật ngay từ đầu bởi sự cao cả của cung thánh. Trái với vị Thượng Tế của Giao Ước Cũ, để gặp gỡ Thiên Chúa, Đức Ki tô không đi qua một đền thờ“do bàn tay con người làm nên, nghĩa là không thuộc về thế giới thọ tạo nầy”.

Dường như tác giả nhắm đến Thân Thể được tôn vinh của Đức Ki tô. Cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa như vậy là vĩnh viễn, không cần lập đi lập lại mỗi năm một lần. Đức Kitô đã khai mở chỉ một lần là đủ con đường dẫn đến Chúa Cha, như tác giả viết sau nầy: “Chúng ta được thánh hóa nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ” (Dt 10: 10).

Máu mà Vị Thượng Tế của Giao Ước Cũ rảy trên bàn thờ không phải máu của chính ông nhưng máu của những tế vật thụ động. Trái lại, Đức Ki tô đã tự nguyện dâng hiến chính máu của mình trong một hiến lễ. Vị Thượng Tế của Giao Ước Cũ chỉ đạt được ơn tha thứ tội lỗi tạm thời, trong khi Đức Ki-tô đạt được sự giải thoát vĩnh viễn.

Những tế vật phải là vô tì vết; ấy vậy, Đức Ki-tô là tế vật vẹn toàn, tuyệt mức tinh tuyền và tuyệt đối thánh thiện; vì thế, hy tế của Ngài cũng tác sinh tính hiệu lực vô cùng tận. Việc rảy máu tế vật đem lại sự thanh sạch nghi thức, trong khi máu của Đức Ki tô đem lại sự thanh sạch nội tâm.

2. Tính hiệu lực của hy tế Đức Kitô

Tại sao hy tế của Đức Ki-tô lại cao vời khôn ví như vậy? Tại sao hy tế của Ngài đem lại tính hiệu lực như vậy? Vì ở nơi Đức Ki-tô có Chúa Thánh Thần. Tác giả nói đến “Thánh Thần hằng hữu” nhằm làm nổi bật sự tương phản đáng kinh ngạc: cái chết của Đức Giê-su đạt được những phúc lộc vĩnh viễn.

Với tư cách là hiến lễ thần linh, hiến lễ thuộc linh, hy tế của Đức Giê-su tái sinh nền tảng của đời sống nội tâm. Những ai đã được thanh tẩy như thế mới có thể dâng lên Thiên Chúa lễ tế xứng với Người.

Hiến lễ của Đức Kitô được gợi lên ở đây không chỉ là hiến lễ đẩm máu trên Thập Giá, nhưng còn là hiến lễ của toàn bộ cuộc sống trần thế của Ngài kể từ khi nhập thể. Tác giả đã áp dụng cho Đức Giê-su Thánh Vịnh 40: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa nầy con đây, con đến đẻ thực thi ý Ngài” (Dt 10: 5-7).

Tác giả thư gởi tín hữu Do thái gợi lên những nghi lễ Đền Thờ hiện nay, như một nền phụng vụ vẫn còn sống động (điều nầy khiến nghĩ rằng ông viết thư nầy trước năm 70, năm đánh dấu Đền Thờ bị phá hủy). Khi ngỏ lời với người Kitô hữu gốc Do thái, ông muốn cho họ thấy rằng những nghi thức của Giao Ước Cũ chỉ là tiên trưng; chúng chỉ có giá trị tương đối. Thực tế, chính hy tế của Đức Kitô đã xóa hết “tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ”. Những ai đã nhận lời hứa ban phúc lộc đời đời, từ nay họ đã đạt được nhờ Giao Ước Mới.

TIN MỪNG (Mc 14: 12-16, 22-26)

Đoạn Tin Mừng Mác-cô nầy, được trích dẫn cho chúng ta vào ngày lễ Mình và Máu Thánh Chúa Kitô năm B, gồm có hai phần: chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua (14: 12-16) và thiết lập bàn tiệc Thánh Thể (14: 22-26).

1. Chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua (14: 12-16)

“Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày giết chiên mừng lễ Vượt Qua”. Hai ngày đại lễ nầy: lễ Bánh Không Men và lễ Vượt Qua, từ lâu được cử hành thành một cặp sóng đôi với nhau: mừng lễ Vượt Qua, lễ của những người chăn nuôi, họ giết một con chiên tơ, và mừng lễ Bánh Không Men, lễ của những người trồng trọt, họ tiến dâng những sản phẩm đầu mùa và bánh không men được làm bằng những hạt lúa mạch đầu tiên. Việc hiệp nhất hai lễ nầy đã trở nên dể dàng hơn vì bữa ăn Vượt Qua cũng bao gồm bánh không men.

Lễ Vượt Qua buộc phải được cử hành ở Giê-ru-sa-lem; bữa ăn con chiên bị sát tế “phải được ăn ở trong thành”. Điều nầy khiến các môn đệ lo lắng. Đức Giê-su là một bậc tôn sư lưu động không nơi cố định; hơn nữa, Ngài là người thuộc miền Ga-li-lê; ngoài ra, theo sơ đồ của các sách Tin Mừng Nhất Lãm, đây là lần đầu tiên Thầy trò lên Giê-ru-sa-lem. Vì thế, họ hỏi Ngài: “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”.

Hoạt cảnh theo sau giống đến kỳ lạ với hoạt cảnh trước đó khi Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mê-si-a: Đức Giê-su sai hai môn đệ đi trước, họ sẽ gặp thấy mọi việc như Ngài đã mô tả cho họ. Trong trường hợp thứ nhất: một con lừa con đang cột sẳn ở đó; còn ở đây, một người mang vò nước đến gặp hai ông. Cả hai lần, những sự việc xảy ra đúng như Chúa Giê-su đã tiên liệu: người ta để cho hai ông dắt con lừa đi; người mang vò nước dẫn hai môn đệ vào nhà và chỉ cho hai ông một phòng đã được chuẩn bị sẳn sàng cho Ngài cùng các môn đệ cử hành lễ Vượt Qua. Qua đó, thánh ký muốn nói rằng Đức Giê-su đã dự liệu tất cả, chính Ngài tổ chức lễ Vượt Qua sau cùng nầy như trước đây Ngài đã tổ chức cuộc khải hoàn tiến vào thành Giê-ru-sa-lem.

2. Thiết lập Bàn Tiệc Thánh Thể (14: 22-26)

Lễ Vượt Qua Do Thái giáo, mà Đức Giê-su cùng các môn đệ cử hành, biến thành lễ Vượt Qua Kitô giáo qua việc Chúa Giê-su thiết lập Bàn Tiệc Thánh Thể: vừa nối tiếp vừa đoạn tuyệt, vừa song đối sâu xa nhưng cũng mới mẻ tận căn giữa hai lễ Vượt Qua này.

Lễ Vượt Qua Do Thái giáo tưởng niệm cuộc giải phóng của dân Ít-ra-en khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập, nhờ vào máu con chiên được bôi trên cửa nhà của người Do-thái. Nhờ dấu hiệu nầy, Thiên Chúa đã nhận ra dân của Người nên đã tha chết cho họ.

Đức Giê-su loan báo cuộc giải phóng khỏi cảnh đời nô lệ tội lỗi nhờ máu Ngài “đổ ra vì muôn người”. Về phương diện lịch sử, cuộc giải phóng khỏi Ai-cập đã làm dân Ít-ra-en thành dân Chúa chọn và ơn tuyển chọn này đã được hiến thánh trên núi thánh Xi-nai bởi Giao Ước Cũ.

Nhờ Mình và Máu Thánh của Ngài, được chia sẻ ở giữa mọi người, Đức Giê-su thiết lập một dân Chúa chọn mới bởi Giao Ước Mới được đóng dấu bằng máu của Ngài. Ở nơi bàn tiệc Thánh Thể, Đức Giê-su tham dự trước cuộc Tử Nạn, đồng thời cuộc Phục Sinh của Ngài.

Nếu khung cảnh lễ Vượt Qua Do Thái giáo soi sáng sự biến đổi kỳ diệu của việc cử hành xưa như thế nào, thì khung cảnh của bữa ăn Vượt Qua Ki-tô giáo mặc khải tất cả khía cạnh thống thiết của nó như vậy: Đức Giê-su sắp từ biệt các môn đệ của mình, những người mà Ngài yêu thương, những người mà Ngài trao phó sứ mạng truyền đạt sứ điệp của Ngài; Ngài không muốn để họ lại một mình; vì thế, Ngài gặp thấy phương tiện để ở lại với họ, bằng cách thiết lập quà tặng kỳ diệu này, quà tặng của chính bản thân mình, nhờ đó các Tông Đồ cũng như những người kế nghiệp các ngài có thể lưu truyền mãi mãi cách thế hiện diện của Ngài. Chỉ duy một mình Thiên Chúa mới có thể vừa ra đi vừa ở lại.

Thánh Mác-cô cũng nhấn mạnh “giá trị cánh chung” của “bàn tiệc Thánh Thể”. Bàn tiệc này tham dự trước bàn tiệc Thiên Quốc: “Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa”.

Trong nhiều sấm ngôn, cuộc sống tương lai thường được biểu thị như bàn tiệc thời Thiên Sai, còn rượu nho như một trong những dấu chỉ của “niềm vui thời Mê-si-a”, niềm vui muôn đời của thế giới sắp đến. Đây đã là một trong những ý nghĩa của dấu lạ tiệc cưới Ca-na, tự nó là khúc dạo đầu của dấu lạ bàn tiệc Thánh Thể: nước biến thành rượu ở tiệc cưới Ca-na tương xứng với rượu biến thành máu của Ngài ở bàn tiệc Vượt Qua.

Đoạn văn này chứa đựng một chi tiết quý báu: “Hát Thánh vịnh xong…”. Đây chính là thánh thi tạ ơn được gọi “Hallel”, được hát để kết thúc bữa ăn Vượt Qua. Bài thánh thi tạ ơn này được trích từ các thánh vịnh 113-118; như vậy, bữa Tiệc Ly của Đức Giê-su theo Tin Mừng Gioan đích thực là bữa ăn Vượt Qua của Đức Giê-su theo các Tin Mừng Nhất Lãm.

blank

C. CÁC BÀI CHIA SẺ

 

Bài 1. Tặng phẩm thần linh
Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Phúc Âm kể lại: Đang khi ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói: Này là Mình Thầy, các con hãy cầm lấy mà ăn. Rồi Người cầm lấy chén rượu và nói: Này là Máu Thầy, các con hãy cầm lấy mà uống. (Mt 26,26-29; Lc, 22,14-20). Chúa đã lập Bí Tích Thánh Thể và Chúa dặn dò các môn đệ: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Tiệc Thánh Thể này được chính Chúa Giêsu tiên báo trong tiệc cưới Cana, được hứa ban cho dân ở Caphanaum, được thiết lập trong Tiệc Ly và đã được chính Chúa cử hành đầu tiên tại làng quê Emmau. Bốn khung cảnh này hòa quyện đan kết với nhau thật tuyệt đẹp trong ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô.

Thánh Thể là sự sống của Giáo Hội, là lương thực thiêng liêng cho đời sống và là bảo đảm cho hạnh phúc trường cửu của người tín hữu chúng ta.

Thánh Thể là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa với con người, và giữa con người với nhau.

Thánh Thể chính là Tặng Phẩm Thần Linh mà Thiên Chúa trao cho nhân loại.

Lịch sử cứu độ là lịch sử hồng ân và là lịch sử tình yêu tự hiến của Thiên Chúa. Cao điểm của lịch sử này là Thập Giá Đức Kitô.Thập Giá là tột đỉnh hy sinh của Thiên Chúa. Thập Giá biểu lộ tình yêu điên rồ của Thiên Chúa. Thập Giá cũng là tột đỉnh hy sinh của Đức Kitô, Đấng đã hạ mình vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên Thập Giá. Thập giá là cao điểm tình yêu tự hiến của Chúa Kitô.

Tình yêu sâu thẳm và khôn dò của Thiên Chúa biểu lộ nơi Thập Giá Đức Kitô là tình yêu vượt thời gian. Tình yêu tự hiến của Đức Kitô biểu lộ bằng cái chết cũng vượt thời gian. Chúa Kitô chỉ tự hiến một lần, tự hiến trọn vẹn thay cho mọi lần.Chúa đã biểu lộ điều này trong bữa Tiệc Ly. Từ đó, Bí Tích Thánh Thể là nguồn mạch của đời sống Giáo Hội, là trọng tâm và là tột đỉnh của sinh hoạt Giáo Hội. Thánh Thể làm nên Giáo Hội. Không có Thánh Thể thì không có Giáo Hội. Giáo hội là thân mình gồm nhiều người ăn cùng một bánh là thân mình Đức Kitô (1Cor 10,17).

Giáo hội luôn định tín rằng: dù chỉ một miếng bánh nhỏ, khi đã được Truyền Phép, vẫn chứa đựng cả thân xác, linh hồn và thần tính của Đức Kitô.Chúng ta có Đức Kitô nguyên vẹn và cụ thể. Chính Chúa Thánh Thần Kitô- hóa bánh rượu, làm cho bánh rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Khi Linh mục, thừa tác viên của Giáo hội, thay mặt Chúa Kitô đọc Lời Truyền Phép. Lời Truyền Phép mà Linh mục đọc không phải là một câu thần chú có một ma lực biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô, giống như Linh mục có quyền trên Chúa Kitô, khiến Chúa đến thì Ngài phải đến. Lời Truyền Phép chính là Lời Chúa Kitô, Lời mà Chúa Kitô muốn nói qua môi miệng của Linh mục. Chúa Kitô đã chọn một số người để họ lập lại y nguyên Lời Truyền Phép của Ngài. Chính Chúa Thánh Thần lấp đầy “khoảng cách” giữa Linh mục và Đức Kitô, khiến Lời Truyền Phép trở nên “công hiệu”, làm cho nội dung của Lời trở thành hiện thực. Sau Truyền Phép bánh không còn là bánh mà là Mình Thánh Chúa, rượu không còn là rượu mà là Máu Thánh Chúa.Đã có một sự thay đổi, sự thay đổi ấy là thay đổi bản thể hay “biến thể”. Đây là công việc của Chúa Thánh Thần, chứ không phải là công việc của người phàm, dù người ấy là Linh mục. Vì ý thức điều đó, Giáo hội thiết tha khẩn cầu trước lúc Linh mục Truyền Phép:

“Chúng con nài xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này, để biến thành Mình và Máu của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể II).

“Lạy Cha, chúng con tha thiết nài xin Cha, cũng nhờ Chúa Thánh Thần, mà thánh hóa của lễ chúng con dâng hiến Cha đây, để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, con Cha, Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể III).

“Lạy Cha, xin cho Chúa Thánh Thần đoái thương thánh hóa những của lễ này, để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể IV).

Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Kitô hiện diện thực sự giữa chúng ta, trong hình bánh và rượu. Điều đó không có nghĩa là Đức Kitô không hiện diện thực sự bằng những cách khác, như hiện diện qua lời Kinh Thánh, hiện diện trong Giáo hội, hiện diện nơi những người nghèo khổ, hiện diện giữa hai hoặc ba người họp nhau cầu nguyện (Mt 18, 20). Tất cả những cách hiện diện đó đều là hiện diện thực. Có điều khác là: Đức Kitô không đồng hóa với lời Kinh thánh, Lời Kinh thánh được đọc lên không là bản thân Đức Kitô; Đức Kitô cũng không đồng hóa với người nghèo,vì người nghèo không là bản thân Đức Kitô, dù Ngài đã nói: “Ta đói các ngươi cho ăn, Ta khát các ngươi cho uống…” (Mt 25, 35-36). Trái lại nơi Bí Tích Thánh Thể, sau Lời Truyền Phép, bánh và rượu là Đức Kitô, là bản thân Ngài, là bản thể Ngài, là Mình và Máu Ngài.Trong Bí Tích Thánh Thể, sự hiện diện của Đức Kitô có một chiều sâu hữu thể mà không nơi nào có. Sự hiện diện đích thực và đặc biệt này của Đức Kitô là kết quả của một sự thay đổi mà tác động thay đổi chính là công việc của Chúa Thánh Thần làm khi Linh mục đọc Lời Truyền Phép.

Bí Tích Thánh Thể là sáng kiến của tình yêu. Tình yêu luôn có những sáng kiến bất ngờ và kỳ diệu. Thiên Chúa đã yêu thế gian nổi ban chính Con Một … (Ga 3,16) và Con Một là Đức Giêsu đã yêu cho đến cùng, đã lập Bí tích Thánh Thể để ở với con người luôn mãi.

Bông lúa và trái nho là những sản phẩm thông thường và cần thiết nhất mà ruộng đất cống hiến cho con người. Bánh và rượu có thể tầm thường, nhưng laị là những gì gần gũi và cần thiết nhất cho cuộc sống con người hàng ngày. Chúa Giêsu đã muốn trở nên những gì cần thiết và gần gũi đó. Người muốn bánh và rượu trở nên thịt máu của Người. Từ bông lúa bị nghiền nát, từ chùm nho bị ép, nghĩa là từ cuộc khổ nạn và cái chết trên Thập Giá, Đức Giêsu đã trở thành tấm bánh, thành ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại. Vật chất đã trở thành biểu tượng cho sự hiện diện thần linh.

Mình và Máu Chúa Kitô là hồng ân vô giá, chúng ta đón nhận để có sự sống thần linh của Chúa. Tham dự Thánh Lễ tích cực, trọn vẹn là cách tốt nhất thể hiện lòng yêu mến Chúa. Thỉnh thoảng trong ngày, trong tuần, chúng ta nên quỳ gối trước Thánh Thể, chúng ta có thể học được nhiều điều từ Bí Tích Tình Yêu.


Bài 2. Tấm bánh tình yêu
ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Mỗi khi chiêm ngắm Thánh Thể Chúa, tôi không ngừng ngỡ ngàng trước tình yêu của Người. Tình yêu ấy vô cùng cao cả nhưng lại rất đỗi đơn sơ. Đơn sơ như hình ảnh tấm bánh.

Tấm bánh, tình yêu gần gũi

Sao Chúa không hoá thân làm viên kim cương quý giá mà lại làm một tấm bánh? Tấm bánh bình thường, quen thuộc quá. Từ khi kinh tế phát triển, bánh càng ngày càng xuống giá, bớt được quý trọng.

Tuy bình thường, nhưng bánh vẫn là lương thực cần thiết cho con người. Cũng như khí trời, như nước, bánh đi vào sinh hoạt hằng ngày của con người. Bình thường lắm nhưng không có không được.

Chúa trở thành tấm bánh để gần gũi với loài người, để đi vào sinh hoạt đời thường của con người. Con người có thể đến với Chúa dễ dàng, không e ngại, sợ sệt. Chỉ là một tấm bánh vừa tầm tay mọi người. Chỉ là một tấm bánh sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của con người. Thật khiêm nhường mà đầy ý nhị. Thật đơn sơ nhưng cũng thật sâu xa vì tấm bánh nói lên tình yêu tự hiến.

Tấm bánh, tình yêu tự hiến

Bánh sẽ chẳng còn ý nghĩa nếu chỉ để trưng bày cho người ta chiêm ngắm. Bánh chỉ có ý nghĩa khi được sử dụng. Được sử dụng là bị bẻ ra, bị nghiền nát, bị tan biến, bị tiêu hoá. Vì thế, trở thành tấm bánh là chấp nhận chịu đau đớn, chịu huỷ hoại. Đây không phải là một chấp nhận bất đắc dĩ, vì tấm bánh bao giờ cũng mời mọc tiêu thụ.

Khi xưng mình là bánh bởi trời, Chúa Giêsu bày tỏ một tình yêu tha thiết, sẵn sàng chịu nghiền nát, tan biến, chịu chết cho nhân loại. Chúa chịu chết cho ta được sống. Chúa chịu huỷ hoại cho ta được lành lặn các thương tích. Chúa bé nhỏ đi cho ta được lớn mạnh.

Tấm bánh bị tiêu hoá để thực hiện một tình yêu hiệp thông.

Tấm bánh, tình yêu hiệp thông

Chúa Giêsu tha thiết với sự hiệp thông. Người không ngừng mời gọi con người đến sống thân mật với Người. Người tự nhận mình là cây nho và mời gọi mọi người hãy trở thành cành nho gắn kết với cây nho.

Hôm nay, Người còn chủ động trở thành tấm bánh để hoà vào từng giòng máu, từng thớ thịt của con người trong một kết hiệp sâu xa. Người tự tiêu huỷ mình để trở thành thịt máu của con người. Không còn sự kết hợp nào sâu xa khăng khít hơn nữa.

Tấm bánh gợi lên một bàn tiệc tại đó anh em quây quần trong tình thương, chia sẻ lương thực và chia sẻ tâm tình. Không còn gì đẹp hơn. Chính Chúa Kitô tự hiến mình để quy tụ chúng ta. Chính Chúa Kitô bị bẻ ra để cho tình huynh đệ nhân loại được mặn mà thắm thiết.

Với những gợi ý như thế, Chúa hướng dẫn tôi trong tình yêu mến, trong cử hành và trong cách sống Bí tích Thánh Thể.

Yêu mến Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là trở nên hiền lành khiêm nhường, sống gần gũi với những người nhỏ bé nghèo hèn?

Cử hành Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là chấp nhận hao mòn, quên mình, thiệt thòi vì Chúa và vì anh em?

Sống Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là xây dựng tình đoàn kết, tình huynh đệ với những người sống quanh ta, trong mọi môi trường cuộc sống?

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, con cảm tạ tình yêu vô biên của Chúa. Con chúc tụng ngợi khen Chúa muôn đời. Amen.


Bài 3. Thánh Thể

Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể trong bối cảnh của lễ Vượt Qua của người Do Thái, một đại lễ lớn nhất của dân tộc. Đại lễ này tưởng niệm lại hành động can thiệp đầy quyền năng của Thiên Chúa, trong việc dẫn dắt dân Người thoát khỏi ách nô lệ ở Ai Cập. Bữa ăn Vượt Qua là một nghi lễ long trọng. Bữa ăn tưởng niệm lại một việc trong quá khứ, và đang khi cử hành việc tưởng niệm đó thì quyền năng của Thiên Chúa lại được tái hiện.

Chúa Giêsu nói: “Các con hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”. Mỗi khi chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể thì quyền năng và tình yêu của Chúa Giêsu lại được tái hiện. Nhưng không chỉ như thế, chính Chúa Giêsu lại hiện diện thật sự ở giữa chúng ta.

Trong khi đó, nhiều người Công giáo lại không ý thức đủ. Họ đi tham dự thánh lễ mà lại đến trễ, về sớm. Vài người lại nói chuyện với nhau hay chỉ nhìn ngắm kẻ khác. Nhiều người vào trong nhà thờ mà không tỏ sự tôn kính Chúa Giêsu Thánh Thể đang hiện diện trong Nhà Tạm. Nhiều người không rước lễ và hầu như không còn để ý đến việc đó nữa. Nhiều người ăn vận trang phục bất xứng, thứ trang phục mà họ không dám mặc khi đến thăm một người bạn. Trong khi xếp hàng lên rước Mình Thánh Chúa Giêsu, một số người thay vì tập trung vào việc chuẩn bị đón Chúa ngự vào tâm hồn mình thì lại đưa mắt nhìn quanh khắp cả nhà thờ.

Tại sao lại xảy ra tình trạng đáng buồn như vậy? Thật là tốt đẹp khi Giáo hội khuyến khích các tín hữu thường xuyên rước lễ và tạo điều kiện dễ dàng cho việc này. Nhưng cũng vì thế mà xảy ra tình trạng người giáo dân ơ hờ, trễ nải đối với Chúa Giêsu Thánh Thể. Cũng có một số tín hữu chịu ảnh hưởng của Tin lành cho rằng Bánh Thánh chỉ là biểu tượng của Chúa Giêsu mà thôi. Nhưng Chúa Giêsu không nói: “Đây là biểu tượng của Mình Thầy”. Chúa nói cách rõ ràng: “Đây là Mình Thầy”.

Ước gì đại lễ kính Mình Thánh Chúa Giêsu Kitô hôm nay giúp mọi tín hữu Công giáo ý thức hơn về sự hiện diện thật sự của Chúa Giêsu Kitô trong Bí tích Thánh Thể. Ước gì ngày lễ hôm nay canh tân tâm tình biết ơn của chúng ta đối với quà tặng vô giá, mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta là chính Thịt Máu Chúa. Càng ý thức hơn về sự hiện diện thật sự của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta càng có thêm sức mạnh để tiến bước trên hành trình đức tin của mình.

Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa vì quà tặng vĩ đại Chúa đã ban cho con là Bí tích Thánh Thể. Xin Chúa giúp con luôn xác tín vào sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bí tích này và hết lòng tôn sùng mến yêu.


Bài 4. Bữa tiệc

Để cổ động cho việc cầu nguyện chung trong gia đình, linh mục Pê-tanh đã nói: “Gia đình nào cầu nguyện chung với nhau thì sẽ sống hiệp nhất với nhau”. Việc cầu nguyện chung trong gia đình sẽ củng cố mối dây hiệp nhất mọi thành phần với nhau mỗi ngày một thêm bền chặt. Dù không muốn nói ngược lại linh mục Pê-tanh và không muốn làm giảm giá trị của việc cầu nguyện chung trong gia đình, nhưng cha Gioan Tô-mát, dòng Tên đã nhấn mạnh một khía cạnh khác, cũng quan trọng không kém, đó là việc dùng cơm chung với nhau thì sẽ sống hiệp nhất với nhau.

Bữa ăn chung trong gia đình có một tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt của nó mà ngày nay nhiều người đã bỏ quên hoặc không quan tâm cho đủ. Không phải bất cứ người xa lạ nào cũng có thể ngồi vào bàn ăn dùng bữa chung trong gia đình. Một người nào được mời dùng bữa với gia đình là dấu chỉ được chấp nhận vào tình thân với gia đình đó, người được mời đến dùng bữa với gia đình là người được gia đình đó quý mến. Bữa ăn tạo dựng sự hiệp thông và yêu thương thân thiết ngày càng bền chặt hơn.

Bữa ăn chung trong gia đình làm cho mọi thành phần vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em được hiệp nhất với nhau, được dịp chia sẻ những niềm vui, những quan tâm lo lắng của nhau. Nếu quan sát thêm chúng ta sẽ thấy vai trò của mỗi người được biểu lộ cách rõ ràng trong bữa ăn chung. “Một gia đình dùng bữa chung với nhau sẽ sống hiệp nhất với nhau”, lý tưởng là như thế, nhưng không phải tất cả mọi người, mọi gia đình ngày nay đều có thể thực hiện được lý tưởng cao đẹp này. Nhiều gia đình đã bỏ mất dịp tốt này, mọi người vội vàng lo cho mình có chút gì vào bụng rồi mau chóng đi lo công việc riêng, mọi người không còn xếp đặt công việc để có thể tham dự bữa cơm chung trong gia đình nữa, nhưng mỗi người xếp đặt đời sống theo một sở thích riêng hay một nhu cầu riêng. Cha mẹ lo làm việc xếp đặt đời sống chạy theo công việc nên không còn quan tâm đến việc ăn cơm chung với con cái; phần con cái bận việc với bạn bè hay công việc riêng của mình nên cũng chẳng màng chi đến bữa cơm chung. Mỗi người trong gia đình đều có lý do riêng để không ăn cơm chung với nhau, nhiều gia đình ngày nay tan vỡ có lẽ vì hai lý do: không cầu nguyện chung với nhau và không ăn cơm chung với nhau. Chúng ta hãy nhìn lại gia đình mình và kiểm điểm theo hai nguyên tắc căn bản trên: cầu nguyện chung và dùng cơm chung.

Chúa Giêsu cũng dùng một bữa ăn, bữa ăn tối cuối cùng với các môn đệ để thiết lập Bí tích Thánh Thể. Chúa đã làm cho bữa ăn cuối cùng này không phải là bữa ăn chứng tỏ tình bạn như trước đây, cũng không phải là bữa ăn để Ngài tự tỏ mình ra như một Môsê mới bằng cách ban phát Manna mới cho họ qua việc hóa bánh ra nhiều, nhưng là bữa ăn liên kết tình bạn và tình yêu.

Chính vì thế thánh Gioan đã viết: “Ngài đã yêu thương các môn đệ của Ngài và đã yêu thương họ đến cùng”. Yêu thương đến cùng có nghĩa là yêu thương đến tột bực. Tột bực tình yêu của Ngài ở đây là việc lập Thánh Thể. Thực vậy, Chúa Giêsu đã ghi dấu đặc biệt của Ngài nơi bữa tiệc này, để từ nay Ngài trở thành nơi gặp gỡ tình yêu giữa chúng ta với Ngài và giữa chúng ta với nhau.

Vì thế, Thánh Thể được gọi là bí tích của sự hiện diện. Chúa Giêsu vừa báo trước cho các môn đệ là Ngài sẽ giã từ thế gian để về cùng Cha. Ngài sẽ phải xa cách họ luôn sao? Không, trong tình yêu thương, Ngài đã tìm ra một phương thế để ở lại với các môn đệ và qua mọi thời gian, ở lại với tất cả những ai tin vào Ngài. Phương thế tuyệt diệu đó là Bí tích Thánh Thể, nhờ đó Ngài hiện diện thực sự và trải dài sự hiện diện đó đến tận cùng thời gian qua mọi người để ban cho họ những điều tốt lành.

Đây là một mầu nhiệm đức tin, bởi vì lý trí chúng ta không hiểu được, giác quan chúng ta không cảm nhận được, chỉ có đức tin dạy cho chúng ta biết: Chúa hiện diện thật sự trong Bí tích Thánh Thể, nên khi rước lễ là chúng ta ăn Mình Chúa và uống Máu Chúa, là lương thực vừa giúp chúng ta sống khỏe, sống mạnh, sống tốt đẹp ở đời này vừa bảo đảm cho sự sống lại và cuộc sống vĩnh cửu, như Chúa đã quả quyết: “Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì Tôi sống trong người ấy, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết và được sống đời đời”. Như vậy, người ăn Mình Chúa và uống Máu Chúa sẽ thuộc về Chúa ngay từ đời này và mai ngày thuộc về Ngài mãi mãi. Thánh Thể là dấu chỉ cho đời sống vĩnh cửu đã khởi sự, và là bảo chứng cho sự sống lại ngày sau hết. Vì vậy, chúng ta hãy siêng năng rước lễ để chúng ta được kết hiệp với Chúa Kitô, và sự kết hiệp đó đưa chúng ta đến sự hiệp thông với nhau, tức là yêu thương nhau. Đúng ra phải như vậy, nhưng thực tế có được như vậy không? Có lẽ nhiều người Kitô hữu quên mất điều này: hiệp thông với Chúa Kitô phải đưa đến sự hiệp thông với nhau.

Tóm lại, khi dâng thánh lễ là chúng ta cùng tham dự bàn tiệc Thánh Thể, chia sẻ Mình Máu Chúa Kitô, Đấng đã hiến cả cuộc đời mình nên của lễ tình yêu. Xin Chúa cho chúng ta một khi đã được hiệp thông với Chúa, thì cũng biết hiệp thông với nhau bằng cuộc sống yêu thương phục vụ để cùng nhau xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.


Bài 5. Mầu nhiệm hàm chứa trong bí tích tình yêu

Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Đức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

Câu kết và cả bài Phúc Âm hôm nay dường như lại muốn đưa chúng ta trở về bầu khí của ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Mà quả thật, ngày lễ hôm nay bắt nguồn từ ngày đó. Hôm ấy, chúng ta kính nhớ việc Chúa Yêsu lập phép Thánh Thể. Đó là biến cố đặc biệt và thâm thúy quá, lẽ ra phải để ra nhiều giờ mà suy niệm. Nhưng hôm ấy, Giáo hội phải vội đi theo Chúa Yêsu trong mầu nhiệm cứu thế. Bỏ bàn Tiệc ly Chúa với các môn đệ ra đi lên núi Cây Dầu. Rồi Chúa bị bắt, bị tra, bị đánh, bị đóng đinh vào thánh giá… Biết bao là việc kế tiếp nhau dồn dập! Giáo hội phải âu yếm đi theo Chúa ngay, không thể dừng lại lâu để suy nghĩ về bí tích Thánh Thể mà Chúa vừa thiết lập. Giáo hội hôm đó chỉ chầu Mình Thánh Chúa một lúc thôi. Nên hôm nay, sau khi đã đi hết chu kỳ phụng vụ và tưởng niệm hết các mầu nhiệm chính trong lịch sử cứu độ, Giáo hội dừng chân, lấy lại công việc bỏ dở hôm trước chạy đến với bí tích Thánh Thể một lần nữa để tìm hiểu cho hết ý nghĩa sâu xa của bí tích tình yêu này.

Và Giáo hội thấy đây là một mầu nhiệm cao cả, mầu nhiệm bao trùm, chứa đựng mọi mầu nhiệm khác. Hát ca tung hô mấy cũng không vừa. Vì thế Giáo hội khuyến khích chúng ta cố gắng tối đa để tôn sùng mầu nhiệm ấy. Lễ Mình Thánh Chúa trở thành một lễ lớn làm khuôn vàng thước ngọc cho mọi lễ khác, đến nỗi trong suốt năm, lễ nào cũng chỉ là lễ Thánh Thể tạ ơn. Thế nên, mầu nhiệm lễ này không thể diễn tả một lần. Hy vọng đây chỉ là khởi điểm cho những suy niệm sâu xa hơn.

Để bắt đầu, chúng ta hãy nhớ lại bài Phúc Âm. Hôm ấy các môn đệ hỏi ý Chúa Yêsu về việc dọn lễ Vượt qua. Đó là ngày hội lớn trong dân. Càng những người đạo đức như các tông đồ lại càng háo hức mừng lễ trọng đại này. Vì hôm nay toàn dân sẽ tưởng niệm Ngày hoàn toàn được giải phóng khỏi ách nô lệ, được đưa vào đất chảy sữa và mật. Kỷ niệm ấy lại càng đáng nhắc nhở khi dân Chúa ngày nay đang sống dưới ách ngoại bang. Khơi lại lịch sử cũ và sưởi ấm lòng người để quy hướng về tương lai.

Các tông đồ muốn ăn lễ Vượt qua trong viễn tượng trông chờ ngày cứu độ mà các tiên tri từng nói tới. Chúa Yêsu chia sẻ những cảm tình đó. Người tỏ ra rộng rãi, bảo môn đệ đi dọn một căn phòng trang trọng. Rồi, như Phúc Âm Yoan cho chúng ta biết, Người đã bước vào phòng ăn một cách đặc biệt, bởi vì Người biết đã đến giờ Người hành động, nên Người tuyên bố: Thầy đã từng ước ao ăn lễ Vượt qua này với chúng con. Câu nói hẳn đã làm cho các môn đệ phải lưu ý. Thầy sắp có một hành vi nào đây. Phải chăng Người sắp công bố Công cuộc cứu dân độ thế của Người. Người vẫn xưng mình là đấng phải đến, là Đấng Thiên Sai cứu thế. Thì đây là lúc thuận tiện nhất để công bố một kế hoạch như vậy. Tâm lý mọi người ngồi ăn đang hướng về tương lai cứu độ.

Có lẽ vì vậy mà vừa ngồi xuống, các môn đệ đã bắt đầu tranh nhau xem ai sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời. Họ như đã được lôi vào bầu khí, tưởng bữa tiệc hôm nay sẽ khai Nước Trời ở trần gian. Đủ mặt 12 tông đồ đại diện cho 12 chi tộc Israel. Thế nên bữa ăn này như đúc kết tất cả lịch sử dân tộc Dothái. Nó nhắc lại hôm mừng lễ Vượt qua chuẩn bị Xuất hành, từ giã nơi nô lệ lầm than để đi vào đất hứa tự do trù mật. Nó cũng gợi đến bữa ăn giao ước như bài đọc I hôm nay vừa thuật: Môsê cùng dân làm lễ cam kết trung thành với Thiên Chúa. Và nhất là nó nghĩ đến bữa ăn cứu độ mà một Isaia đã loan báo: Thiên Chúa sẽ dọn ra trên đồi Sion cho muôn dân đến no thỏa. Chính Đức Kitô cũng đã từng ví Nước Trời như một bữa tiệc trọng đại.

Lời nói và thái độ của Chúa Yêsu hôm nay rõ ràng như muốn thực hiện điều đó ở trong bữa ăn này. Thế nên bàn tiệc Thánh Thể quả thật là Nước Trời. Quá khứ, hiện tại, tương lai phải lấy đây làm mốc. Tất cả lịch sử cựu ước hướng về bữa ăn này; và tất cả tương lai của lịch sử cứu độ cũng phát xuất từ đây. Ước gì mỗi khi đến dự bàn tiệc Thánh Thể chúng ta có được tâm trạng của các môn đệ ngày xưa cảm thấy đây là giây phút trọng đại của tất cả lịch sử loài người.

Quả thật, Phúc Âm hôm nay kể tiếp: đang khi ăn, Chúa Yêsu cầm lấy bánh mà đọc: này là Mình Ta sẽ bị nộp vì chúng con. Rồi Người lại cầm lấy chén rượu mà phán: Này là Máu Ta, Máu tân ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho muôn người được khỏi tội. Thật là rõ ràng, Chúa Yêsu đã biến mình trở thành con chiên vượt qua. Bữa ăn này không phải chỉ tưởng niệm lễ Vượt qua của người Dothái nữa, nhưng từ nay muốn thay hẳn lễ vượt qua này. Vì Con Chiên Vượt qua đích thực là đây, nơi con người mà trước kia Yoan đã trỏ vào mà nói: đây là Con Chiên Thiên Chúa gánh tội thiên hạ. Hôm ấy, Anrê đã có mặt… Ông đã nghe rõ lời Yoan. Ông xin Yoan cho đi theo Chúa Yêsu. Hôm nay chắc ông mới hiểu rõ lời của Yoan, vì trong lễ Vượt qua này, rõ ràng Chúa Yêsu đã muốn bỏ quên máu chiên để nói máu mình.

Và bữa ăn hôm nay, với những lời tuyên bố kia, rõ rệt cũng muốn thay thế lễ nghi ký kết giao ước như Môsê đã làm. Hôm ấy như bài đọc I hôm nay kể, ông đã lấy máu bò rảy trên dân để tuyên bố giao ước giữa Chúa và dân. Hôm nay Đức Kitô đã lấy chính máu mình đưa cho các môn đệ uống và công bố đó là máu giao ước mới và vĩnh cửu. Như vậy cũng đã chấm dứt giao ước cũ và dĩ hậu trong tương lai cũng chẳng còn giao ước nào khác nữa vì đây đã là giao ước mới và vĩnh cửu rồi.

Thành ra các lời tiên tri loan báo Nước Trời, về bữa ăn thịnh soạn sẽ bày ra trên đỉnh đồi Sion để công bố thời đại thiên sai hòa giải nay cũng đã được thực hiện trong bữa ăn giữa Chúa và các môn đệ… Các tiên tri đã loan báo thời đại cứu thế như thời thái hòa: Chúa tha hết tội lỗi cho dân, dân trở thành nơi quy tụ các dân tộc, các dân tộc sống với nhau trong hòa bình và thông cảm. Hôm nay cầm lấy chén rượu, Chúa Yêsu tuyên bố đây là chén máu của giao ước mới và vĩnh cửu, tha tội cho dân và cho mọi người. Chúa Yêsu muốn thực hiện mọi lời tiên tri, khiến bàn tiệc Thánh Thể hôm nay trở thành bàn tiệc Nước Trời và ai muốn được ơn nào bởi trời, phải đến với bàn tiệc Thánh Thể.

Quả vậy, trong bàn tiệc này, không thiếu một ơn trên trời nào. Chúng ta cần trời ban cho những ơn nào? Sức khỏe phần xác và giàu sang phú quý ư? Chắc chắn đó không phải là những ơn đầu tiên chúng ta cần trời ban cho. Những ơn đó quá gần với mặt đất, nên có cầu xin, chúng ta cũng chỉ coi như là những ơn phụ, đi kèm và biểu lộ những ơn phần hồn quan trọng hơn.

Chính Chúa Yêsu cũng có ý như vậy khi dùng bánh rượu vào tiệc bồi dưỡng tâm hồn. Chúa ban Mình Máu Người cho ta dưới hình thức bánh rượu để nói lên ý Chúa muốn nuôi dưỡng tâm hồn ta nhưng cũng không quên đời sống vật chất của mọi người. Những ơn mà ta cần trời ban cho hơn cả chính là tình thương của Thượng đế, ơn tha tội mà chỉ mình Người mới có thể ban được, để chúng ta được hòa giải với Người hầu sống trong tình thương của Người.

Thế mà Thánh Thể lại muốn ban chính ơn ấy cho ta. Chén máu mà chúng ta lãnh nhận là chén máu giao ước tha tội. Và tấm bánh mà chúng ta cầm ăn chính là mình Chúa chịu nộp vì chúng ta. Lãnh nhận Thánh Thể như vậy là lãnh nhận được ơn cao cả nhất mà chúng ta cần được Chúa ban cho. Mọi ơn khác được bao hàm trong ơn cứu độ phong phú này. Tìm đến với Thánh Thể là tìm được điều cần thiết duy nhất và mọi sự khác sẽ được ban thêm cho. Chúng ta chỉ còn việc làm cách nào hầu lãnh nhận được ơn Thánh Thể cho sung mãn.

Chính Chúa Yêsu khi lập Bí tích Thánh Thể đã gợi ý cho ta: chúng con hãy làm việc này để nhớ đến Ta. Và thánh Phaolô đã quảng diễn: mỗi khi ăn bánh và uống chén rượu này, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết cho đến khi Người lại đến. Nghĩa là chúng ta luôn luôn phải cử hành mầu nhiệm Thánh Thể trong bầu khí Chúa chịu chết của ngày thứ Năm Tuần Thánh. Chúng ta phải có tâm tình hơn những người Dothái khi ăn thịt chiên vượt qua, vì Mình Thánh Chúa đây mới thật là thịt chiên vượt qua của đạo mới. Thế mà người Dothái ngày trước khi ăn lễ chiên đã có tâm trạng dứt khoát từ bỏ nếp sống nô lệ để dấn thân vào nếp sống tự do mới mẻ. Chúng ta tham dự phụng vụ Thánh Thể phải có tâm hồn cương quyết hơn nữa muốn dứt bỏ đời sống tội lỗi và xác thịt để sống cho Thiên Chúa. Và như dân Dothái ngày xưa khi làm lễ giao ước đã thề hứa sống liên kết với Chúa và trung thành với Lời Chúa thế nào, thì chúng ta ngày nay càng cần phải có tâm trạng như thế vì trong bàn tiệc Thánh Thể này có máu giao ước thật thay cho máu bò xưa.

Nếu tham dự lễ nghi Thánh Thể trong viễn tượng ấy, chúng ta có thể nhìn vào Mình Máu Thánh Chúa mà nói với tác giả thư Hibá như chúng ta vừa nghe đọc: Chúa Kitô xuất hiện như vị thượng tế… Người hiến tế chính mình làm của lễ trong sạch… Máu Người sẽ tẩy sạch lương tâm chúng ta, khiến chúng ta có thể phụng thờ Thiên Chúa hằng sống… và nhờ sự chết của Người mà những kẻ được kêu gọi đến lãnh gia nghiệp đời đời.

Ít là hôm nay chúng ta hãy tham dự thánh lễ với tất cả những ý nghĩa đó. Và mong rằng ngày hôm nay khi tôn sùng Thánh Thể bằng bao nghi thức long trọng bên ngoài, chúng ta hằng suy niệm trong lòng tất cả các mầu nhiệm hàm chứa trong bí tích tình yêu, để ai tin và ăn bánh này sẽ được trường sinh.


Bài 6. THÁNH THỂ, MẦU NHIỆM TẠ ƠN

Trần Mỹ Duyệt

Đang khi họ ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các ông mà phán: “Các con hãy cầm lấy, này là Mình Ta”. Rồi Người cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các ông và mọi người đều uống. Và Người bảo các ông: “Nầy là Máu Ta, Máu tân ước sẽ đổ ra cho nhiều người” (Mc 14: 22-24).

Tình Chúa yêu thương nhân loại đã được Hội Thánh đưa vào phụng vụ lễ Mình Máu Thánh Chúa. Suy niệm về điều này mỗi khi tham dự Thánh Lễ và rước Chúa sẽ giúp Kitô hữu chúng ta biết làm sao để tri ân, cảm tạ Ngài; đặc biệt, sống đời tri ân, cảm tạ ấy. Lễ Mình Máu Chúa, không chỉ nhắc chúng ta nhớ lại việc Chúa Giêsu đã làm trong Bữa Tiệc Ly năm xưa, nhưng còn để giúp chúng ta duy trì sự hiệp thông với Người. Tri ân, cảm tạ Thiên Chúa như Chúa Giêsu đã cảm tạ Cha Người. Người đã cảm tạ Chúa Cha khi nâng chén, và cũng đã truyền cho các môn đệ mình làm như thế.

Chúa Giêsu cảm cảm tạ Chúa Cha, vì Chúa Cha đã ủy thác cho Người sứ vụ cứu độ trần gian, và đã để Người hành xử theo cách cho đi chính mình hầu làm của ăn, thức uống, cho những ai tin nhận và yêu mến Người. Trở nên sức mạnh cho họ trên hành trình đức tin, và cũng là sự sống đời đời cho họ sau này: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại trong ngày sau hết” (Gio 6:55). Kitô hữu chúng ta khi lên rước Mình Máu Thánh Chúa, cũng phải cảm tạ Thiên Chúa vì đã ban Chúa Giêsu cho mình. Cảm tạ chính Chúa Giêsu vì đã trở thành của ăn uống cho linh hồn mình.

Cảm tạ và tri ân là hành động của kẻ thụ ân, một hành động của con người có lý trí và tình người. Nó là một hành động khiêm tốn biết đón nhận của người tự biết mình thiếu thốn và cần sự giúp đỡ. Ngoài ra, nó còn như một lời nhắc nhở mình sống sao cho xứng đáng với những gì mình đã lãnh nhận. Bản thân Chúa Giêsu cũng thường nói với những kẻ mà Người đã ban ơn cho họ như phải đi trình diện với các tư tế, dâng của lễ… những hình thức tri ân cảm tạ. Và Người đã bỡ ngỡ trước thái độ vô ơn của 9 kẻ phong cùi đã được Người cho lành sạch. Nhưng lời chúc tụng và tạ ơn Người làm trong Bữa Tiệc Ly mang một ý nghĩa khác, cao cả và siêu nhiên hơn. Nó nhắc nhở đến biến cố vượt qua được Thiên Chúa giải thoát tổ tiên Người khỏi kiếp nô lệ Ai Cập. Từ “toda”mà người Do Thái dùng để nói về biến cố ấy mang ý nghĩa cảm tạ, tri ân. Thánh Vịnh 107 cùng với lời Tiên tri của Giêrêmia đã nói về niềm vui và cảm tạ này: “Người người sẽ nghe tiếng mừng vui, hoan lạc, tiếng cô dâu, chú rể, tiếng những kẻ nói: ‘Hãy cảm tạ Giavê các cơ binh vì Người tốt lành, vì ơn Người miên man vạn đại.”(Gr 33: 14). Hình ảnh ấy cũng ám chỉ niềm vui và ơn giải thoát mà chính Người sắp sửa làm cho dân mới của mình.

Chúng ta chỉ có thể đạt đến Bí Tích Thánh Thể khi hiểu được thế nào là lời ca tạ ơn mà Chúa Giêsu đã thực hiện qua việc Người cống hiến mạng sống, chết đi và phục sinh của Người cho Chúa Cha. Đức Bênêđíchtô XVI đã diễn tả điều này như sau: “Tiệc Ly của Đức Giêsu chính là lời cảm tạ rất “toda” ngay trước khi đi vào cõi chết.” Và lời Thày trước khi trỗi dậy: “Anh em hãy làm việc này như Thày làm hôm nay.”

Khi viết về cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu các Thánh Sử dường như qui hướng về Thánh Vịnh 22 mang ý nghĩa “toda” – Tri ân, cảm tạ. Với ý nghĩa này, cuộc Khổ Nạn và cái chết của Người chính là một lời tạ ơn Người dâng lên Thiên Chúa Cha, Đấng mà Người đã thưa với tấm lòng tri ân ngay từ muôn thuở: “Này con xin đến để làm theo ý Cha”. Cùng với tâm tình tri ân ấy mà Người đã phục sinh sau cõi chết để tiếp tục mãi mãi lời tạ ơn. Đó cũng là ý nghĩa ta gọi Thánh Lễ là Lễ Tạ Ơn. Bởi vì trong đó Chúa Giêsu lại một lần nữa hy hiến mình vì vinh danh Chúa Cha và vì phần rỗi muôn dân. 

Như vậy, khi chúng ta đến với Thánh Lễ là đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, là hiệp thông, là đón lấy Lời Tạ Ơn của Người để cùng với Người tạ ơn Thiên Chúa Cha. Lời tạ ơn này được đi vào thực tế khi chúng ta đón nhận Mình Máu Thánh Chúa. Lúc ấy, không phải chỉ có chúng ta, mà cùng với Chúa Giêsu, với Đức Trinh Nữ Maria, với muôn thần thánh, và mọi người đang thông hiệp với Người sẽ hợp lời tạ ơn dâng về Chúa Cha Chí Thánh là nguồn ơn vĩnh cửu của tất cả mọi tạo vật. Lời tạ ơn khởi đi từ nguyên thủy, tiếp nối mãi trong vô biên và cho đến muôn đời.

Khởi đi từ nguyên thủy khi Thần Khí Chúa bay là là trên nước: “Khởi thủy Thiên Chúa đã dựng nên trời và đất. Đất trời trống không mông quạnh, và tối tăm trên mặt uông mang và Thần Khí là là trên mặt nước” (Gen 1:1-2). Đây chính là Thần Khí ban sự sống, do Lời Ngài mà muôn vật được tạo thành. Mọi sự từ hư vô ra hiện hữu đều do Ngài. Công trình ấy con người phải tạ ơn. Và lời tạ ơn của con người phải hòa nhập với lời tạ ơn của Chúa Giêsu Kitô mới có giá trị. Mới đẹp lòng Thiên Chúa.

Lời tri ân cảm tạ phát xuất từ nguyên thủy ấy nay đi vào hiện hữu và được tiếp nối qua biến cố Nhập Thể (Lc 1). Cũng Thần Khí ấy, Đấng phủ tràn làn nước khởi nguyên, nay lại bao phủ và thánh hóa con người và cung lòng thánh khiết của Trinh Nữ Maria để ở đó Lời mặc xác phàm đến với nhân loại và ở giữa chúng ta “emmanual”. Nơi cung lòng này Thần Khí đã làm một cuộc sáng tạo mới vô cùng kỳ diệu, vượt xa sự kỳ diệu của sáng tạo: Tính “Người” của Thiên Chúa bằng với tính “Người” của Chúa Giêsu, để từ đó Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha lời tri ân, cảm tạ rất mật thiết, rất đẹp lòng Thiên Chúa.

Trong Thánh Lễ lời tạ ơn, tri ân, cảm tạ vẫn tiếp tục được dâng lên. Hình ảnh Thần Khí bay là là trên nước. Hình ảnh Thần Khí thánh hóa và bao phủ Trinh Nữ Maria để ban tặng sự sống, để đem Chúa Giêsu vào đời lại xuất hiện. Khi chủ tế đọc lời truyền mà Chúa Giêsu đã làm trong Bữa Tiệc Ly xưa: “Này là Mình Ta, Này Máu Ta”, thì trong khoảnh khắc ấy, sự sống rất Giêsu nảy sinh. Dưới hình thù bánh và rượu, Người đã trỗi dậy, đích thân hiện diện với và giữa con người. Một sự hiện diện thực sự, chứ không là biểu tượng. Sự hiện diện rất thật, chứ không là hiện-diện theo ký ức mà ai đó tưởng nhớ.

Sự hiện diện đem Chúa Kitô có mặt thật sự nơi Tiệc Thánh Thể không chỉ vào lúc chúng ta nhớ đến Người, mà cả vào khi chúng ta không nghĩ về Người, hay ngay cả khi ta hoài nghi về sự hiện diện ấy. Người không diện chỉ bằng hành động suông mà đích thân có mặt, bằng chính bản thể rất “người” của Người. Thánh Phaolô cho đây là biến cố mà Chúa Giêsu đã vượt qua các tầng trời, đã vượt qua mọi trở ngại xác phàm để tiến vào Cung Thánh Nhiệm Mầu dâng hiến chính mình cho phần rỗi các nhân loại: “Người đã đi qua nhà tạm rộng rãi và hoàn hảo hơn, không phải do tay người phàm xây dựng, nghĩa là không thuộc về trần gian này, cũng không nhờ máu dê bò, nhưng nhờ chính máu của Người mà vào Cung Thánh chỉ một lần và đem lại ơn cứu độ muôn đời. Vì nếu máu dê và tro bò mà người ta rẩy trên kẻ ô uế còn thánh hóa được thân xác nên trong sạch, huống chi máu của Đức Kitô, Đấng để nhờ Thánh Thần mà hiến tế chính mình làm của lễ trong sạch dâng lên Thiên Chúa; máu đó sẽ tẩy sạch lương tâm chúng ta khỏi những việc sinh sự chết, khiến chúng ta có thể phụng sự Thiên Chúa hằng sống.” (Her 9:11-14)

Sự thay đổi và hiện diện kỳ diệu của Thánh Thể đã làm kinh ngạc các thiên thần và con người, điều mà Tôma Aquinô gọi là “Phép lạ lớn lao nhất Chúa từng làm”. Nó vượt quá trí khôn tự nhiên. Và cũng Thánh Tôma đã bảo chúng ta, điều đó không có gì lạ, nếu mắt chúng ta không nhìn thấy, trí khôn không đo lường được. Để bù lại, ngài khuyên chúng ta phải dùng đến cặp mắt đức tin: “Ta hãy lấy đức tin bù lại, nếu giác quan không cảm thấy gì.” Như trong biến cố Nhập Thể, chúng ta cũng nghe lời Tổng Thần Gabriel đã nói với Đức Maria: “Với Chúa, chẳng có gì là không thể!” (Lc 1: 34-35) Vì khi nhìn vào tấm bánh, chén rượu sau lời truyền phép, tuy con mắt không thấy có sự thay đổi nào, nhưng đức tin cho biết, do Thần Khí thánh hiến của Thiên Chúa, Lời Ngài (Chúa Giêsu Kitô), Đấng đã trỗi dậy từ cõi chết, nay đang nói và thành hiện thực. Và khi chính Người đã nói: “Này là Mình Ta.” thì không ai còn ngờ vực tính xác thực Người đang hiện diện trong Thánh Thể nữa. Chính vì thế, sau khi truyền phép, chủ tế chỉ vào bánh và rượu và nói với mọi người: “Đây là mầu nhiệm đức tin.”

Và sau cùng, sau truyền phép chủ tế lại một lần nữa kêu gọi Thần Khí biến đổi cả chúng ta những người đang chờ thông hiệp với Đấng đã trở nên Bánh và Rượu. “Nguyện xin Chúa Thánh Thần làm cho chúng con trở nên lễ vật vĩnh cửu, để chúng con được lãnh nhận gia nghiệp cùng với các người Chúa đã chọn, nhất là với Đức Trinh Nữ Maria rất thánh, Mẹ Thiên Chúa, các Thánh Tông Đồ và Tử Đạo hiển vinh cùng với các thánh…” Một lời nguyện để khi chúng ta đón nhận Mình Thánh Chúa vào lòng, thì Thần Khí và Lời hợp lực biến đổi chúng ta thành Thân Mình nhiệm màu của Chúa Kitô, khiến chúng ta thành Hội Thánh của Thiên Chúa. Và cũng biến chúng ta trở thành trời mới đất mới, làm một trong Thân Mình Chúa. Nhờ sự hiệp thông khi nhận đón Thánh Thể, nhờ sự sống của Chúa Giêsu cắm rễ sâu nơi tâm hồn mỗi người và mọi người giúp chúng ta cùng với nhau cảm tạ hồng ân và bày tỏ thái độ tri ân ấy bằng chính cuộc sống chứng nhân của mình. Đây là hành động mà con người phải thực hiện và tiếp nối thực hiện kéo dài cho đến vĩnh cửu.

Thánh Thể mầu nhiệm Tạ Ơn. Mầu nhiệm dẫn ta đến vĩnh hằng để ở đó cùng với Đức Trinh Nữ Maria, muôn vàn thần thánh chúng ta sẽ mãi mãi dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Vì tình yêu vô biên của Ngài mà chúng ta được hiện hữu, được biết, và được yêu mến Ngài. Cũng chính từ tình yêu thương ấy mà mọi ngày chúng ta lại được dẫn đến bàn tiệc Thánh Thể để rước Mình Máu Thánh Chúa Giêsu, để hiệp thông, chia sẻ, và sờ mó Lời Hằng Sống. 

Tiệc Thánh Thể – Lời tạ ơn vô biên, bao la và không bao giờ cùng của Chúa Giêsu Kitô dâng lên Chúa Cha, của những Kitô hữu hằng ngày đến với Người trong Thánh Lễ, và đón nhận Mình Máu Thánh Người khi rước lễ. Một mầu nhiệm tuyệt vời, khôn sánh mà chỉ có đức tin mới giúp con người hiểu nổi phần nào. Phải chăng Thiên Chúa đã chẳng còn làm gì hơn cho con người ngoài trừ Phép Thánh Thể. Phải chăng khi chia sẻ sức sống Thần Linh này con người đã chẳng được hòa tan vào với vô biên của Thiên Chúa, với bao la tình Ngài! 

Nhưng như Chúa Giêsu đã tạ ơn Chúa Cha bằng đời sống thánh hiến, và bằng cái chết của Người. Khi rước Mình Máu Chúa, và khi hòa nhập vào với Chúa Giêsu, chúng ta cũng phải sống đời tạ ơn bằng với hy sinh và chứng nhân của chính đời mình. Thánh Thể, không chỉ là hình thức phụng vụ mang tính tôn giáo. Nó cũng không phải là một lối nhìn và sống “đạo đức”. Chúng ta đến với Thánh Thể vì đó là Tình Yêu cho đi. Là nhận lãnh, là sẻ san, là sống thực bằng đời sống với lời cảm tạ, biết ơn, và tôn vinh. Đây là một mầu nhiệm mà con người phải suy ngắm, cầu nguyện, và sống.


Bài 7. “HÃY CẦM LẤY MÀ ĂN”

PM. CAO HUY HOÀNG

Tôi may mắn được đọc trang nhật ký của một bạn trẻ vừa mới ra trường sau 5 năm đại học, ở nhà trọ cùng với ba đứa em cũng là sinh viên, nhật ký có đoạn:

“Cha ơi, cha không còn sức làm kinh tế như hồi trai trẻ xuống ruộng lên rừng, nhưng bây giờ, thời gian của cha vẫn kín việc và việc. Những việc ấy, theo cách nói của cha là việc “vô lương” nghĩa là không có lương. Thỉnh thoảng, có người thơm thảo cho cha một chút gọi là “thù lao” không đáng kể. Hôm qua, sau mấy ngày công việc xa, trên đường về, cha ghé lại Sàigòn, thăm chị em và đưa cho con hai triệu rưỡi. “Hãy cầm lấy mà lo tiền nhà, tiền điện nước tháng nầy nghe con. Cha mới nhận bì thư được ba triệu. Còn năm trăm đem về cho mẹ và út”. Mỗi lần cha ghé vào thăm là mỗi lần chị em con được nghe “hãy cầm lấy… ít đồng”. Con đã hỏi cha: “Sao cha không đổi cách nói khác đi, lúc nào cũng nghe “hãy cầm lấy”. Em con, bé P, sinh viên năm hai, đi họp nhóm Sống Lời Chúa ở Nhà Thờ Xóm Thuốc về, nó phát hiện ra điều gì hay hay lạ lạ, nói: “Em biết cha mình rồi. Cha thích câu “Hãy cầm lấy mà ăn” của Chúa Giêsu”. Giờ con mới hiểu ra, cha mẹ là tấm bánh bẻ ra nuôi chúng con ăn học. Con cảm ơn cha mẹ”.

Tôi bỗng dưng vui vì đoạn nhật ký cho tôi liên tưởng đến Thánh Lễ giữa cuộc đời của những Giáo Dân không làm Linh Mục Thừa Tác. Họ không cầm lấy bánh, không cầm lấy chén rượu mà đọc lời chúc tụng hay truyền phép cho bánh rượu trở nên Mình Máu Chúa Giêsu, nhưng họ cầm chính mạng sống mình mà tế lễ mỗi ngày trên khắp nẻo đường dương thế.

Từ rất sớm, khi thành phố còn ngủ giấc bình yên, thì có những người đã “cầm chiếc bánh đời mình” từ ven ô lên phố chợ: Một xe rau, một thồ cây trái, một giỏ hàng đủ loại. Muộn hơn tí, có người đẩy chiếc xe cháo lòng, xe hủ tíu, người đạp xe bánh giò bánh chưng, người đạp xe bắp luộc, người quảy gánh bún giò, người quảy gánh chè xôi nước… để kiếm cho con cái ăn, cái mặc, cái chữ… Họ “dâng lễ” từ sáng sớm đến mịt tối. Khi phố đã lên đèn, vẫn còn nghe tiếng rao chè xôi cuối ngày ế ẩm. Cả khi thành phố chìm vào giấc ngủ, vẫn còn kia tiếng gõ xe hủ tíu khuya khoắt mỏi mòn ! Họ “dâng lễ đời mình” cho con cái họ được sống.

Nói là họ dâng lễ, họ tế lễ đời mình có hàm hồ quá chăng ? Vâng, có thể là như thế. Vì rằng, ai cũng tất tả kiếm cái ăn cho mình, cho gia đình, cho con cái, nhưng ý thức “việc đánh đổi đời mình lấy cái ăn cho con như là một Thánh Lễ”, thì hẳn là hiếm hoi !

Biết bao cha mẹ không dám nói “hãy cầm lấy mà ăn”, sợ lộng ngôn vô phép, nhưng họ đã tận hiến đời mình cho con từ thuở thanh xuân cho đến thời tàn tạ. Biết bao người không dám nói “hãy cầm lấy mà ăn”, nhưng âm thầm mục nát đi cho cây lúa đời con từ xanh non đến ngày kết muôn bông hạt vàng. Biết bao người không dám nói “hãy cầm lấy mà ăn”, nhưng đã hy sinh cả cuộc đời mình để người khác được sống. Mỗi người đều như đang cử hành Hy Lễ đời mình ngay trong nhà mình, ngay trên đường đời.

Cách đây hơn 37 năm, hẳn là Linh Mục Phêrô Nguyễn Thiên Cung (nay là Giám Đốc Chủng Viện Nicolas Phan Thiết) đã suy tư thấu đáo về Thánh Lễ trong cuộc đời của mỗi tín hữu, khi viết ca từ thật thâm thúy trong bài ca dâng lễ và Linh Mục Giacôbê Ánh Đăng đã phổ nhạc: “Trên đĩa thánh cuộc đời, Chúa ơi, con xin dâng tấm bánh này cuộc sống. Trong chén thánh cuộc đời Chúa ơi, con xin dâng hết hy sinh trong đời” (bài Thánh Ca “Trên Đĩa Thánh”).

Nhân lễ Mình Máu Thánh Chúa, cùng với Lời Chúa “Các con hãy cầm lấy, này là Mình Ta”(Mc 14, 22), ước gì, mỗi người làm cha mẹ cũng sẽ trao cho con “tấm bánh đời mình” với ý nghĩa tế hiến chính cuộc đời mình làm nên cuộc đời con cái. Và ngược lại, con cái cũng sẽ ý thức rằng chúng ta đang sống nhờ chính thịt máu của cha mẹ.

Ước được như vậy, là ước mọi người cụ thể sống mầu nhiệm Thánh Thể ngay trong nhà mình.

Gia đình sống được nhờ rước lấy Thánh Thể Chúa Giêsu, để Mình Máu Thánh Chúa Giêsu hình thành nơi mỗi người một nhân cách mới: nhân cách tận hiến cho nhau để tất cả cùng nhau được sống.

Gia đình sẽ trở nên bàn thờ sống động vì nhờ kết hiệp với Lễ Tế Chúa Giêsu mà những đau khổ, những hy sinh trong đời, sẽ trở thành lễ dâng ý nghĩa và đẹp lòng Thiên Chúa. “Trên đĩa thánh cuộc đời, Chúa ơi, con xin dâng tấm bánh này cuộc sống. Trong chén thánh cuộc đời Chúa ơi, con xin dâng hết hy sinh trong đời”.

Gia đình sẽ trở nên bàn tiệc Thánh Thể khi mỗi người trao cho nhau những nỗ lực của mình để cho nhau được sống và sống an bình hạnh phúc.

Như vậy, Lời Chúa truyền dạy “Hãy cầm lấy mà ăn” và việc Chúa hy sinh dâng hiến đang thực sự diễn ra mỗi ngày ngay trong gia đình chúng ta.

Xa hơn tí nữa, nếu đã có một gia đình sống mầu nhiệm Thánh Thể với việc cử hành Thánh Lễ trong gia đình, thì thiết nghĩ, với vốn liếng tận hiến quí giá ấy, mỗi người sẽ không ngần ngại bẻ tấm bánh đời mình ra cho các gia đình khác nữa, cho lối xóm, cho những người chung quanh, cho mọi người.

Một gia đình gặp hoàn cảnh khó khăn, hay gặp chuyện bất trắc ập đến, các gia đình khác xúm lại giúp đỡ sẻ chia. Nhưng giá trị của việc sẻ chia ấy hẳn phải dựa trên ý nghĩa hơn là tiền bạc, dựa trên phẩm hơn là lượng. Tôi vẫn tin rằng mỗi việc bác ái của chúng ta, nếu được thực hiện với ý nghĩa “bẻ bánh”, nhờ động lực tình yêu Thánh Thể thôi thúc, thì hẳn là một việc có giá trị trước mặt Chúa lắm. Từ Thánh Lễ trong gia đình đến Thánh Lễ trong làng xóm, hẳn cũng không khác nhau khi mỗi chúng ta đã được Thánh Thể Chúa Giêsu hình thành một nhân cách mới: nhân cách tận hiến cho nhau để tất cả cùng nhau được sống.

Xin tri ân những hy sinh của cha mẹ, không chỉ vì trách nhiệm với con cái, mà còn vì cha mẹ đang muốn con cái “hãy cầm lấy cuộc đời cha mẹ mà ăn, mà sống”.

Xin tri ân những hy sinh của mọi người, không chỉ vì tình làng nghĩa xóm, mà còn vì ý thức sống mầu nhiệm Thánh Thể giữa đời: “Hãy cầm lấy mà ăn”.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con xin tri ân Chúa Giêsu Thánh Thể, đấng duy nhất chỉ ra cho con người con đường hạnh phúc: con đường tận hiến cho nhau, con đường hy sinh mạng sống cho nhau, con đường chết đời mình đi để người mình yêu được sống và sống dồi dào. Xin cho chúng con cũng biết bẻ tấm bánh đời mình ra cho mọi người. Amen.
 

Bài 8. “GIAO ƯỚC TÌNH YÊU!’’
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ 

Bao lâu các công ty, xí nghiệp chưa ký kết được các hợp đồng làm ăn buôn bán thì các công ty, xí nghiệp ấy còn bị đe dọa bởi tình trạng thiếu việc làm sẽ dẫn tới việc đóng cửa. Bao lâu các nước trong một vùng chưa ký kết được với nhau những hiệp ước an ninh, hòa bình thì bấy lâu các nước ấy còn bị đe dọa bởi xung đột và chiến tranh. Bao lâu loài người chưa có được một giao ước với Thiên Chúa thì loài người còn sống trong vô vọng. Nhưng Thiên Chúa đã đi bước trước trong việc thiết lập giao ước tình yêu với loài người khi Người cứu Ít-ra-en khỏi cảnh nô lệ Ai-cập và ký kết với họ giao ước Xi-nai. Đó là giao ước cũ và là hình bóng của một giao ước mới mà Thiên Chúa đã ký kết mấy ngàn năm sau với toàn nhân loại nơi Con Một Yêu Dấu của Người. Giao ước cũ được ký kết bằng/nhờ máu chiên bò. Còn giao ước mới được ký kết bằng/nhờ Máu Châu Báu của Chúa Giê-su Ki-tô, Con Một Thiên Chúa đã đổ ra trên thập giá. Chúng ta mừng Lễ Mình Máu Thánh Chúa trong tâm tình cảm tạ tri ân khi hiện tại hóa Giao Ước Tình Yêu ở núi Xi-nai và đồi Gol-go-tha!

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH

3.1 Chân Dung của Thiên Chúa

1o) Bài đọc 1 (Xh 24,3-8): là một đoạn văn hết sức quan trọng của Cựu Ước vì cho chúng ta biết Thiên Chúa của Ít-ra-en (và của hết mọi dân, mọi nước) là Đấng Thiên Chúa nào. Đó là Thiên Chúa của Tình Yêu và của Giao Ước. Vì yêu thương Người đã chọn Ít-ra-en làm dân riêng và đã ban cho họ các điều luật để họ cứ đó mà sống và sẽ được hạnh phúc. Vì đã ký kết Giao ước với Ít-ra-en, Người sẽ trung tín thực hiện mọi lời hứa với dân riêng của Người và với cả nhân loại.

2o) Bài đọc 2 (Dt 9,11-15): Thánh Phao-lô trình bày Chúa Giê-su vừa là Vị Thượng Tế của Thiên Chúa, vừa là Của Lễ của Giao Ước Mới giữa Thiên Chúa và nhân loại. Người đã dùng chính Máu mình mà đền tội nhân loại và thanh tẩy các tâm hồn, làm cho con người nên trong trắng tinh tuyền đẹp lòng Thiên Chúa. Máu xúc vật và nghi lễ của Cựu Ước chỉ là hình bóng của Hy Lễ Thập Giá của Con Một Thiên Chúa là Chúa Giê-su Ki-tô!

3o) Bài Tin Mừng (Mc 14,12.22-26): là tường thuật của Phúc Âm Mác-cô về Bữa Ăn Tối cuối cùng của Chúa Giê-su với các Tông đồ. Trong bữa ăn lịch sử ấy. Chúa Giê-su đã công bố một điều tuyệt diệu và hết sức bất ngờ: “Anh em hãy cầm lấy bánh này mà ăn vì đây là Mình Thầy sẽ bị giao nộp vì anh em; anh em hãy cầm lấy chén rượu này mà uống vì đây là Máu Thầy, Máu Giao ước đổ ra vì muôn người.” Đức Giê-su đã trở thành lương thực cho các môn đệ được sống. Người đã chuộc tội chúng sinh bằng chính Máu và Sự Sống của mình để Giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại được lặp lại và được nâng lên một tầm cao mới.

3.2 Sứ điệp của Lời Chúa

Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là: Thiên Chúa đã yêu thương và tuyển chọn chúng ta làm dân riêng của Người và đã ký kết với chúng ta một Giao Ước Tình Yêu bằng/nhờ hy tế thập giá của Con Một Người là Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng đã đổ hết Máu mình ra để cứu chuộc chúng ta. Chúng ta là dân của Giao Ước Tình Yêu nên có nghĩa vụ thi hành mọi lời Đức Chúa đã phán.

IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA LỜI CHÚA HÔM NAY

4.1 Sống với Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần (Chúa Ba Ngôi) Đấng đã ký kết Giao Ước Tình Yêu với loài người để loài người được sống trong tình nghĩa với Người.

4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa hôm nay là đáp lại sự Chọn Lựa và Tình Yêu của Thiên Chúa, là tuân giữ các điều khoản của Giao Ước Tình Yêu, bằng những cách cụ thể như:

(1o) Luôn có tâm tình và lời kinh cảm tạ về

(a) Sự chọn lựa yêu thương và vô vị lợi của Thiên Chúa,

(b) Hy Lễ Thập Giá mà Chúa Giê-su đã dâng lên Chúa Cha để đền tội và cứu vớt chúng ta.

(2o) Chỉ phụng thờ một mình Thiên Chúa mà thôi và tuân giữ các giới răn yêu thương và công bình trong đời sống cá nhân và xã hội.

V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ THẾ GIỚI

* Lời nguyện giáo dân:

5.1 «Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho ngày càng có nhiều người đón nhận giao ước của Thiên Chúa với loài người nơi Con Một Thiên Chúa là Đức Giê-su Ki-tô.

Hát: Chúa ơi, xin nghe lời chúng con nguyện cầu! 

5.2 «Đức Ki-tô đã đến làm Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho tất cả mọi người được hưởng phúc lộc mà Chúa Ki-tô đã đem lại cho những kẻ tin, bằng cuộc sống và cái chết thập giá của Người.

5.3 «Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy. Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho tất cả các Ki-tô hữu biết siêng năng và trận trọng lãnh nhận Mình Máu Chúa để được kết hợp với Chúa Giê-su Ki-tô trong Lễ Tế Tạ Ơn và Chuộc Tội.

5.4 «Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Ki-tô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho chính chúng ta biết dâng hiến đời mình như của lễ Tạ Ơn theo gương Chúa Giê-su Ki-tô!

* Hoặc lời cầu nguyện tự phát sau đây: 

1. Lạy Thiên Chúa là Cha, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha vì Cha đã ký kết giao ước tình yêu với Ít-ra-en và nhân loại, để chúng con trở thành Dân Giao Ước và được làm hòa cùng Cha là Đấng mà chúng con hằng xúc phạm. Chúng con nguyện thi hành và tuân theo mọi lời Cha đã phán dậy!

2. Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa vì Chúa đã hiến mình làm Của Lễ Đền Tội cho chúng con được giao hòa với Thiên Chúa. Chúa còn biến mình thành bánh và rượu nuôi dưỡng chúng con trong Bí Tích Thánh Thể. Chúng con nguyện sẽ siêng năng và sốt sáng đến với Thánh Thể Chúa!

3. Lạy Chúa Thánh Thần, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa vì Chúa luôn hiện diện và cùng hoạt động với Chúa Cha và Chúa Con trong lễ ký kết giao ước Xinai và Golgotha. Chúng con nguyện sống dưới sự hướng dẫn và thúc đẩy của Chúa để trở thành hiến tế đẹp lòng Thiên Chúa, theo gương Chúa Giê-su Ki-tô!

Bài 9. Thần lương
Trầm Thiên Thu

Ăn uống là cái sự sung sướng đầu tiên trong tứ khoái của con người. Ăn uống không chỉ là khoái khẩu mà còn là nuôi sống thân xác. Ăn uống cũng là nét văn hóa: Văn hóa ẩm thực. Ăn uống không chỉ là đưa ẩm thực vào miệng, nhai, nuốt và tiêu hóa theo sinh lý tự nhiên, mà còn phải học cách ăn để biết cách ăn, như tục ngữ Việt Nam nói: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”.

Thân xác cần lương thực để sống, tâm hồn cũng cần loại lương thực đặc trưng để sống. Người Công giáo hạnh phúc có được một loại siêu ẩm thực, gọi là thần lương, đó là Thánh Thể của chính Đức-Kitô-Thiên-Chúa-Nhập-Thể-Làm-Người. Ai ăn Mình Thánh Chúa và uống Máu Thánh Chúa thì không còn đói khát và được sống đời đời.

THIẾT LẬP GIAO ƯỚC

Ngày xưa, ông Môsê xuống thuật lại cho dân mọi lời của Đức Chúa và mọi điều luật. Toàn dân đồng thanh đáp: “Mọi lời Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành” (Xh 24:3). Ông Môsê đã chép lại mọi lời của Đức Chúa. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, lập một bàn thờ dưới chân núi và dựng mười hai trụ đá cho mười hai chi tộc Ít-ra-en. Đó là Giáo ước và là Thập giới (Mười điều răn). Dâng lễ toàn thiêu, ngả bò làm hy lễ kỳ an tế Đức Chúa’ rồi ông Môsê lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: “Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo” (Xh 24:7). Ông Môsê lấy máu rảy lên dân và nói: “Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này” (Xh 24:8). Một Giáo-Ước-Máu được thiết lập giữa Thiên Chúa và loài người.

Chúng ta hoàn toàn bất xứng, thế nhưng Thiên Chúa không coi chúng ta là tôi tớ và lại thiết lập Giáo ước với chúng ta. Vì thế, chúng ta lại càng phải biết dâng lời tạ ơn. Giáo hội đã dùng Tv 116 để tạ ơn, vì Thánh vịnh này là Lời Kinh Tạ Ơn. Thiên Chúa chí thánh và cao sang vô cùng, chúng ta không có gì đền đáp cho cân xứng: “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ vì mọi ơn lành Ngài đã ban cho? (Tv 116:12), tự vấn rồi chỉ còn biết tin cậy vào Ngài: “Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu Thánh Danh Đức Chúa” (Tv 116:12-13).

Chúng ta phải khiêm nhường nhìn nhận: “Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ, tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi” (Tv 116:16) và tự hứa: “Lời khấn nguyền với Chúa, tôi xin giữ trọn, trước toàn thể dân Ngài” (Tv 116:18).

Trong thư gởi giáo đoàn Do Thái, Thánh Phaolô cho biết: “Đức Kitô đã đến làm Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai. Để vào cung thánh, Ngài đã đi qua một cái lều lớn hơn và hoàn hảo hơn, không do bàn tay con người làm nên, nghĩa là không thuộc về thế giới thọ tạo này. Ngài đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, Ngài vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta” (Dt 9:11-12). Rồi thánh nhân giải thích và kết luận: “Vậy nếu máu các con dê, con bò, nếu nước tro của xác bò cái, đem rảy lên mình những kẻ nhiễm uế còn thánh hoá được họ, nghĩa là cho thân xác họ trở nên trong sạch, thì Máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy. Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Ngài thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống. Trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa” (Dt 9:13-15). Thánh Phaolô nói rõ ràng quá!

THỰC HIỆN GIAO ƯỚC

Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, ngày sát tế chiên Vượt Qua, Chúa Giêsu sai hai môn đệ đi và dặn họ: “Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó. Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn: “Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu? Và ông ấy sẽ chỉ cho các anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng. Ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta” (Mc 14:13-15). Hai môn đệ ra đi vào thành, các ông thấy mọi sự y như Ngài đã nói. Và các ông dọn tiệc Vượt Qua.

Đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy” (Mc 14:22). Rồi Ngài cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, trao cho các ông, và nói: “Đây là máu Thầy, máu Giao ước, đổ ra vì muôn người” (Mc 14:24). Đây là phép lạ lớn nhất, và đây là mầu nhiệm đức tin, vì không có đức tin thì không thể nào tin nổi. Bánh và rượu được thánh hóa để trở thành Thánh Thể của Đức Giêsu Kitô, làm thần lương nuôi sống chúng ta hằng ngày. Đó cũng là Giao ước được thực hiện, đúng như Chúa Giêsu đã hứa trước khi Ngài về cùng Chúa Cha: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Ngài lập Bí tích Thánh Thể và cũng lập chức Linh mục kỳ diệu, phàm nhân mà được chúa trao quyền.

Sau đó, Ngài nói: “Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa” (Mc 14:25). Ngài về Thiên quốc trước để dọn chỗ cho chúng ta, những người tin Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Độ.

Để tỏ lòng kính mến Thánh Thể và đáp lại Tình Ngài, chúng ta nên rước lễ thật hằng ngày, rước lễ xong thì hãy đắm mình trong Ngài để hòa tan với Ngài và chuyện trò với Ngài, rước lễ thiêng liêng thường xuyên trong ngày, chầu Thánh Thể chung hoặc riêng. Chúa Giêsu ở Nhà Tạm hằng ngày chờ đợi chúng ta tâm sự với Ngài, không phải chúng ta an ủi Ngài mà chúng ta được Ngài an ủi. Thánh Thể và Thánh Tâm phải được chúng ta ưu tiên, và đó cũng là tôn kính Lòng Chúa Thương Xót vậy.

Lạy Chúa, xin thanh tẩy tâm hồn chúng con để chúng con xứng đáng lãnh nhận Thánh Thể Đức Kitô, là chúng con lãnh nhận phúc trường sinh, chứ không bị án phạt đời đời vì bất xứng. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Thiên Chúa của chúng con. Amen.

Bài 10. Suy niệm Lễ Mình Máu Thánh Chúa
Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà

Từ ngày tổ tông loài người sa ngã phạm tội, ông bà nguyên tổ và con cháu cắt đứt mọi tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa, phải xa lìa Thiên Chúa vĩnh viễn và cuối cùng phải trầm luân đời đời trong cõi chết.

Không nỡ để cho loài người phải chìm ngập trong đau khổ và sự chết do tội lỗi gây ra, Thiên Chúa tìm mọi cách cứu vớt loài người để họ được sống hạnh phúc với Người luôn mãi.

Thế là Thiên Chúa lên kế hoạch cứu độ loài người. Kế hoạch đó nhắm đến ba mục tiêu tối quan trọng sau đây:

- Xóa bỏ tội lỗi con người.
- Kết hợp nên một với con người và ở với họ mọi ngày cho đến tận thế.
- Thông ban sự sống cao cấp và viên mãn của Thiên Chúa cho loài người.

Ba mục tiêu cao cả nầy được đạt tới trọn vẹn nhờ việc Chúa Giê-su thiết lập Bí Tích Thánh Thể.

Vậy thì Bí Tích Thánh Thể là gì mà có thể mang lại hiệu quả tuyệt vời đến thế?

Có thể trả lời vắn gọn: Bí Tích Thánh Thể, còn gọi là Thánh Lễ, chính là hy tế thập giá của Chúa Giê-su đã khởi đầu cách đây 2.000 năm trên đồi Can-vê và còn tiếp tục diễn tiến qua các thời đại cho đến ngày tận thế. (giáo lý công giáo 1323,1366)

Trăm nghe không bằng một thấy. Muốn hiểu điều cốt yếu của Bí Tích Thánh Thể hay Thánh Lễ là gì thì cứ việc nhìn vào tượng chuộc tội, hoặc muốn thấy rõ hơn thì nhìn vào mười bốn bức tranh đường thánh giá mà các tín hữu vẫn chiêm ngắm vào mỗi ngày thứ sáu hằng tuần. Tượng chuộc tội đó, mười bốn bức họa đường thánh giá đó, minh họa cho thấy hy tế thập giá của Chúa Giê-su diễn ra thế nào. Thánh Lễ ta tham dự hôm nay chính là phần nối tiếp của hy tế thập giá đó và cũng là một với hy tế đó.

1. Nhờ Thánh Lễ, Chúa Giê-su dâng mình đền tội cho ta

Luật Chúa đã truyền: “Tội lỗi tất phải đưa đến sự chết” (xem Ê-dê-ki-ên 18,20. Rm 5,12. Rm 6,23. Giacôbê 1,15) mà luật Chúa thì không thể xóa bỏ được. Chiếu theo luật nầy, loài người đã phạm tội nên loài người không thể thoát chết, trừ phi có ai chết thay cho họ. Thế là Ngôi Hai Thiên Chúa tình nguyện làm Đấng chết thay.

Khi dâng mình làm lễ tế trên đồi Can-vê hôm xưa, cũng là khi dâng mình trong Thánh Lễ hôm nay, Chúa Giê-su chịu đền tội và chịu chết thay cho người tội lỗi để họ được ơn tha thứ và thoát khỏi án chết đời đời. (xem glcg 1365, 1366)

2. Nhờ Thánh Lễ, Chúa Giê-su cho ta được kết hợp nên một với Người và Người ở lại với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế

Làm thế nào để cho con người được nên một với Chúa Giê-su?

Chúa Giê-su có một sáng kiến tuyệt vời: Người hiện diện dưới hình tấm bánh, dưới hình rượu để cho chúng ta được ăn Người, được uống Người. Và một khi đã ăn Chúa Giê-su, chúng ta được nên cùng máu thịt, cùng một thân mình với Chúa như lời Người phán: “Ai ăn thịt và uống máu Tôi, thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy.” (Ga 6, 56)

Thiên Chúa như đại dương bao la. Còn chúng ta như vũng nước nhỏ bên bờ đại dương. Khi ta rước Chúa vào lòng, ngăn cách giữa ta với Chúa không còn nữa: Ta được tan hòa vào Chúa như ao nước nhỏ tan hòa vào đại dương, nên một với đại dương, được nước đại dương làm cho trong lành. 

3. Nhờ Thánh Lễ, Chúa Giê-su ban sự sống của Người cho ta

Muốn cho cành nho rừng tiếp nhận được sự sống của cây nho vườn, thì nó phải được tháp nối nên một với cây nho vườn.

Muốn cho một bàn tay bị cắt lìa thân được tiếp nhận sự sống từ thân thể thì bàn tay đó phải được ghép nối vào thân thể, trở nên một với thân thể.

Vậy muốn cho loài người tiếp nhận được Sự Sống của Chúa Giê-su thì phải làm cho họ nên một với Chúa Giê-su.

Khi rước Mình Máu Thánh Chúa Giê-su, chúng ta được hòa tan trong Chúa, Chúa với ta không còn là hai mà chỉ là một. Nhờ đó, Sự Sống đời đời của Thiên Chúa nơi Chúa Giê-su sẽ được thông ban cho ta như sự sống của thân thể chuyển thông cho từng chi thể. Nhờ đó, chúng ta mới được sống đời đời như lời Chúa Giê-su xác nhận: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời” (Ga 6,54).

Như thế, Thánh Lễ, hay nói khác đi là hy tế thập giá của Chúa Giê-su là một phương thế tuyệt vời Thiên Chúa dùng để cùng một lúc ban cho chúng ta đến ba hồng ân vô giá, đó là tha thứ tội lỗi cho chúng ta, cho ta được thông hiệp nên một với Chúa và nhất là thông ban sự sống vô cùng cao quý của chính Người cho chúng ta.

Lạy Chúa Giê-su, Chúa phải trả giá rất đắt, trả giá bằng cả cuộc đời và sinh mạng của Chúa để đem lại cho chúng con những ân huệ quá đỗi tuyệt vời. Lẽ nào chúng con lại ngoảnh mặt quay lưng hay tỏ ra thờ ơ hững hờ với những hồng ân cao vời như thế?

Xin cho chúng con sớm nhận ra hồng ân vô giá nầy để ngày ngày siêng năng tham dự Thánh Lễ và tận hưởng thiên ân.

Bài 11. SUỐI NGUỒN TÌNH YÊU 
JM. Lam Thy ĐVD

Ngay từ trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su Ki-tô đã giảng tại hội đường Ca-phác-na-um: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt tôi và uồng máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho kẻ ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uòng máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 53-56). Lời dạy này không chỉ làm cho đám người Do thái sôi nổi tranh luận với nhau: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được”; mà còn khiến nhiều môn đệ của Người thốt lên: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi” (Ga 6, 60).

Quả thật là khó nghe lọt tai được, bởi theo nghi thức Do thái thì trong những dịp lễ lớn như lễ Vượt Qua, hy lễ toàn thiêu sẽ là chiên hay bò (Xh 24, 5) bị sát tế, dùng máu rảy lên bàn thờ và trên đầu những người tham dự, còn thịt thì nướng chín để làm của ăn. Bây giờ Đức Ki-tô lại bảo ăn thịt và uống máu Người thì làm sao mà nghe cho được? Phải chờ đến đúng thời điểm, Đức Ki-tô đã cùng với các môn đệ tổ chức lễ Vượt Qua như một bữa Tiệc Ly, và nhân dịp này Người lập bí tích Thánh Thể. Khi lập bí tich Thánh Thể, Đức Giê-su dùng rượu bánh để nói đến Thịt và Máu của Người làm hy tế toàn thiêu dâng lên Chúa Cha và cứu độ nhân loại. Tiếp liền theo đó là cuộc khổ nạn mà chính Mình Máu Thánh Chúa đã thực sự đổ ra trên thập tự giá. Chỉ đến lúc ấy, “Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giê-su đều rất đỗi sợ hãi và nói: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27, 54).

Điều khó tin và chướng tai đối với người Do thái và các môn đệ đã thực sự xảy ra: Cuộc tử nạn của Đức Giê-su chính là một hy lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa Cha. để đền tội cho toàn thể nhân loại. Cuộc sát tế chính Con Thiên Chúa – thay vì chiên sát tế – mang 2 chiều kích rõ rệt: chiều kích “vì Thiên Chúa” biểu hiện tình yêu tuyệt đối trong vâng phục Thánh ý Thiên Chúa Cha + chiều kích “vì con người” biểu hiện tình yêu vô song đối với nhân loại tội lỗi, nhằm cứu vớt, giải thoát họ khỏi sự chết đời đời. Như vậy, Bí tích Thánh Thể (trên Hy tế Thập giá) chính là suối nguồn Tình Yêu đích thực: chiều doc (thẳng đứng) thể hiện tình yêu Cha con giữa Thiên Chúa với loài người (MẾN CHÚA hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn) + chiều ngang thể hiện tình yêu đồng loại (YÊU NGƯỜI như yêu chính mình).

Để hiểu được Mầu nhiệm Thánh Thể, không gì bằng học trong Thông điệp HỘI THÁNH TỪ THÁNH THỂ do ĐGH Gioan-Phaolô II ban hành đúng vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh (17/4/2003). Nơi chương I (số 11), Thông địêp đã khẳng định: “Đức Giêsu, trong đêm bị nộp” (1Cr 11, 23) đã thiết lập Hy tế tạ ơn là Mình và Máu Người…” Hy tế Tạ ơn – “nguồn gốc và tuyệt đỉnh của đời sống Ki-tô hữu” – chứa đựng toàn thể kho tàng thiêng liêng của Hội Thánh: Đức Giê-su Ki-tô, Đấng hiến mình cho Chúa Cha để cứu chuộc thế giới. “Hội Thánh đã đón nhận Thánh Thể từ Đức Ki-tô, Chúa của mình, không như một quà tặng – dẫu quý giá – giữa nhiều quà tặng khác, nhưng là quà tặng trổi vượt, vì quà tặng đó chính là bản thân Người, quà tặng của một ngôi vị trong nhân tính thần linh, đồng thời cũng là quà tặng của công trình cứu độ. Vì thế, Thông điệp mở đầu “Hội Thánh múc nguồn sự sống từ Thánh Thể. Sự thật này không chỉ đơn thuần diễn tả một kinh nghiệm thường nhật của đức tin, nhưng tóm kết cốt lõi của mầu nhiệm Hội Thánh… Hội Thánh vui hưởng sự hiện diện này với một cường độ mãnh liệt duy nhất. Kể từ ngày lễ Ngũ tuần, khi Hội Thánh, Dân của Giao ước Mới, bắt đầu cuộc hành trình đi về Quê trời, Bí tích thần thiêng tiếp tục ấn dấu trên ngày sống, bằng cách tuôn đổ trên họ niềm hi vọng tin tưởng”.

Chỉ cần đọc bố cục của Thông điệp đã đủ thấy Mầu nhiệm Thánh Thể là chóp đỉnh Tình Yêu, là “nguồn gốc và tuyệt đỉnh của đời sống Ki-tô hữu”:

Chương I: MẦU NHIỆM ĐỨC TIN: Quả thật, bản chất hy tế của Thánh Thể là “Mầu nhiệm đức tin”Việc cử hành Thánh lễ tái hiện mầu nhiệm Thánh Thể không phải là một sự lập lại lễ Vượt qua của Đức Ki-tô, hay là việc nhân lễ ấy lên nhiều lần trong những thời gian và nơi chốn khác nhau; nhưng đó là hy tế duy nhất trên Thánh Giá, được tái diễn cho đến tận thế.

Chương II: BÍ TÍCH THÁNH THỂ XÂY DỰNG HỘI THÁNH: Thánh Thể trong hình Bánh và Rượu đã truyền phép là sức mạnh sinh ra sự hiệp nhất trong Hội Thánh. Hội Thánh được kết hiệp với Chúa Cứu Thế đang ở trong Hội Thánh và xây dựng Hội Thánh. Hội Thánh tôn thờ Người không những trong Thánh Lễ, nhưng còn trong mọi thời khắc khác, gìn giữ như “kho tàng” quí báu nhất của mình.

Chương III: ĐẶC TÍNH TÔNG TRUYỀN CỦA BÍ TÍCH THÁNH THỂ VÀ CỦA HỘI THÁNH: Hội thánh đã và vẫn còn được thiết lập “trên nền móng các tông đồ” (Ep 2, 20), là những chứng nhân được chính Đức Ki-tô tuyển chọn và sai đi truyền giáo. Thánh Thể cũng đặt nền tảng trên các tông đồ, bởi vì nó được Đức Giê-su ủy thác cho các tông đồ, và được truyền lại cho chúng ta bởi các tông đồ và những người kế vị các ngài. Chính trong sự tiếp nối với hành động của các tông đồ và vâng theo lệnh truyền của Chúa mà Hội thánh cử hành Thánh Thể trong suốt các thời đại.

CHƯƠNG IV: THÁNH THỂ VÀ SỰ HIỆP THÔNG CỦA HỘI THÁNH: Trong cuộc lữ hành trên trần thế, Hội Thánh được mời gọi gìn giữ và cổ võ sự hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa và sự hiệp thông giữa các tín hữu. Vì mục tiêu ấy, Hội Thánh có được Lời Chúa và các bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể, nhờ đó, Hội Thánh “luôn sống động và tăng triển”. Bản tính Giáo Hội là hịêp thông và từ hiệp thông đã trở nên một trong số những tên gọi của bí tích cao vời này.

Chương V: PHẨM GIÁ CỦA VIỆC CỬ HÀNH THÁNH THỂ: Việc cử hành “Thánh lễ” mang những dấu bên ngoài nhằm làm nổi bật niềm vui đã quy tụ các tín hữu chung quanh quà tặng vô giá là Bí tích Thánh Thể. Kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, văn chương và nói chung, tất cả mọi hình thức nghệ thuật chứng tỏ rằng, qua bao thế kỷ, Hội Thánh luôn tôn trọng và duy trì sự phát triển của nghệ thuật thánh và kỷ luật phụng vụ. “Đó chính là đường hướng đã được Công đồng Vatican II cổ võ liên quan đến nhu cầu “hội nhập văn hoá” cách lành mạnh và thích hợp.”

Phần kết luận: “Trong dấu chỉ khiêm hạ của bánh và rượu, được biến đổi thành Mình và Máu, Đức Kitô đồng hành với chúng ta như một nguồn sức mạnh và của ăn đàng, và Người biến chúng ta thành những chứng nhân của niềm hy vọng cho anh chị em chúng ta. Đối diện với mầu nhiệm này, nếu trí khôn cảm thấy những giới hạn, thì trái lại, con tim, được ân sủng Chúa Thánh Thần soi sáng, biết phải có thái độ nào, đó là đắm chìm trong sự tôn thờ và tình yêu vô biên”.

Thánh Âu-tinh đã dạy:.”Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Ngài”. Chính vì thế, nên trong Sắc lệnh Truyền Giáo (số 35), ĐTC Gioan-Phaolô II cũng dạy: Tất cả các tin hữu vì là chi thể của Chúa Ki-tô hằng sống, được tháp nhập vào Người và nên giống Người nhờ Bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể, nên họ có bổn phận phải cộng tác vào việc phát triển và bành trướng Thân Thể Người, để Thân Thể này được sung mãn càng sớm càng hay”. Vâng, mỗi Ki-tô hữu hãy nhìn lại mình để thấy được là: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2, 20). Như vậy là với cái thân xác yếu hèn, chúng ta đã được Đức Ki-tô Phục Sinh tháp nhập vào Người để trở nên đồng hình đồng dạng với Người. Vậy thì tại sao ta lại không thể toàn tâm toàn ý cộng tác với Giáo Hội vào việc phát triển và bành trướng Thân Thể Người, để Thân Thể này được ngày càng sung mãn? Hỏi tức là trả lời rồi vậy.

Lạy Chúa Cha toàn năng hằng hữu! Đức Giê-su là Thiên Chúa mà lại yêu thương con người như vậy, đang khi chúng con cùng là con người với nhau, cùng chịu đau khổ như nhau, mà chúng con lại hờ hững không thông cảm nhau, không yêu thương nhau, không quan tâm tới nhau. Chúng con quá ích kỷ, tình yêu của chúng con quá nghèo nàn. Ôi! Lạy Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh! “Trong hình bánh Chúa náu thân khó hèn. Con dù không thấy luôn vững niềm tin. Đây chính Máu Thịt Con Đức Chúa Trời. Là Vua trên hết các vua trần ai. Con xin kính tin sấp mình thờ lạy Chúa, và dâng tiến lên niềm yêu mến chân thành. Từ nay con quyết sống tình yêu Chúa. Ở nơi thế gian và trên chốn Thiên đình.” (“Lòng Chúa Ái Tuất” – Nguyễn Bang Hạnh – TCCĐ). Ôi! Lạy Chúa! Xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con luôn yêu mến Thánh Thể và siêng năng rước Chúa vào lòng, cũng như chia sẻ cho anh em Mình Máu Chúa như một bảo đảm cho sự sống đời đời của chúng con. Amen.

Bài 12. Thánh Thể biểu lộ tình yêu Thiên Chúa
Lm. Đa-minh Trần Đình Nhi

Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Mác-cô kể lại việc Chúa Giê-su chuẩn bị cho bữa tiệc mừng lễ Vượt Qua với các môn đệ. Chúa đã sắp đặt nơi chốn và những thứ cần thiết qua trung gian của một người bạn thân. Người đàn ông mang vò nước là tín hiệu dẫn hai môn đệ tới địa điểm. Khi đến nơi, chủ nhà chỉ cho họ căn phòng “đã được chuẩn bị sẵn sàng”. Rồi khi lập Bí tích Thánh Thể, Chúa phán: “Đây là mình Thầy… đây là máu Thầy”. Động lực nào đã khiến Chúa Giê-su làm và phán những điều ấy? Câu trả lời hẳn là ý nghĩa đích thực của Bí tích Thánh Thể mà Phụng vụ Lời Chúa mời gọi chúng ta suy niệm.

Có lẽ chúng ta ít khi để ý tới việc Chúa chuẩn bị gần để mừng lễ Vượt Qua. Đây không phải là mừng lễ Vượt Qua như mọi năm, nhưng là lễ Vượt Qua của bản thân Chúa Giê-su, qua cuộc Thương Khó để tiến tới Phục Sinh, qua đau khổ và đổ hết máu ra để chiến thắng tội lỗi và sự chết. Nhưng quan trọng hơn cả, mừng lễ Vượt Qua lần này là để Người “ở lại” với nhân loại cho đến tận thế một cách nhiệm mầu, tức là Bí tích Thánh Thể. Vì tầm quan trọng ấy, Chúa Giê-su đã bí mật và đích thân sắp xếp, chuẩn bị cho giờ phút trọng đại thiết lập phép Thánh Thể.

Chúa Giê-su muốn ở lại với tất cả con người của mình, với chính thân thể và máu của Người. Cho nên sự hiện diện của Người không phải là hiện diện tượng trưng bằng tấm bánh hay chén rượu, mà là sự hiện diện thực sự và theo bản thể, bản thể Thiên Chúa và bản thể nhân loại của Người. Người ở lại giữa chúng ta như một giao ước, không phải giao ước bằng bia đá hay giấy tờ, mà là giao ước bằng thân thể bị trao nộp vì chúng ta và bằng máu đổ ra vì muôn người. Do đó, Chúa Giê-su lập Bí tích Thánh Thể là để “làm trung gian của một Giao Ước Mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm” (Do-thái 9:15). Chúa Giê-su hiện diện qua Bí tích Thánh Thể là để tiếp tục yêu thương và cứu độ chúng ta. Có thể chúng ta ít khi nghĩ đến chiều kích cứu độ của Bí tích Thánh Thể, nhưng Chúa Giê-su đã nói rõ ràng về mục đích của Mình Chúa bị trao nộp và Máu Người được đổ ra là để cứu độ chúng ta. Việc này nhắc nhớ chúng ta suy nghĩ và ngưỡng mộ tình yêu của Thiên Chúa Cha, Đấng đã sai Con Một đến để cứu chúng ta. Thư Do-thái cũng nêu lên sự cộng tác của Chúa Thánh Thần trong công cuộc cứu độ này: “Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Ki-tô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa” (9:14). Bí tích Thánh Thể không lặng lẽ như chúng ta thấy qua hình ảnh ngọn đèn nhà tạm leo lét đâu, nhưng là hình ảnh diễn tả một tình yêu sôi sục của Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng muốn thực sự ở lại và tiếp tục cứu độ chúng ta.

Sống sứ điệp Tin Mừng

Chúng ta đã thấy Chúa Giê-su rất mong muốn có một cuộc “ở lại” hạnh phúc với chúng ta, nên Người đã cẩn thận chuẩn bị lập Bí tích Thánh Thể như thế nào. Chúng ta đã chứng kiến tình yêu cứu độ của Chúa Cha dành cho chúng ta qua cuộc đời rao giảng và hy sinh mạng sống của Con Một là Chúa Giê-su. Chúng ta cũng cảm nghiệm tình yêu thánh hóa của Chúa Thánh Thần qua sự trưởng thành của Giáo Hội và đời sống đức tin lớn lên trong tâm hồn chúng ta. Tất cả những cách biểu lộ tình yêu này được thu gọn trong một dấu chỉ cuối cùng, đó là Bí tích Thánh Thể. Vậy chúng ta phải làm gì để đáp lại tình yêu lớn lao ấy?

Khi Chúa trao cho các môn đệ bánh là chính Mình Chúa, các ông đã “cầm lấy và ăn”. Khi Người trao cho họ chén rượu là Máu Người, thì “tất cả đều uống chén này”. Họ làm như thế để được “ở lại” với Chúa, để tình yêu biến đổi họ và để được Người cứu độ. Nếu Bí tích Thánh Thể không biến đổi chúng ta và không tác động chúng ta, đó là tại chúng ta vô cảm, không đáp lại tình yêu của Thiên Chúa, là tại chúng ta chỉ cầm lấy mà ăn và nhận lấy mà uống một cách vô ý thức mỗi khi lên rước lễ. Cái bệnh vô ý thức này dễ nhận thấy lắm, nhất là qua cung cách khi lên nhận Mình Máu Chúa và cám ơn Người đã ngự vào lòng chúng ta, mặc dù chúng ta không xứng đáng!
 

Bài 13. HIỆP THÔNG VÀ CHIA SẺ
LM. ĐAN VINH

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Mc 14,12-16.22-26

2. Ý CHÍNH:

Đức Giêsu lập bí tích Thánh Thể trong bữa tiệc ly Vượt Qua của đạo Do thái, trước khi hiến thân chịu tử nạn và phục sinh, hầu thiết lập một Giao ước Mới để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa và ban ơn cứu độ cho loài người thay thế cho Giao ước Cũ thời Mô-sê.

3. CHÚ THÍCH:

- C 12-13: + Tuần lễ Bánh Không Men: Luật Mô-sê quy định về lễ Vượt Qua và tuần lễ Bánh Không Men như sau: Ngày 14 tháng Ni-xan (là tháng thứ nhất theo lịch Do Thái, tức vào khoảng tháng 3-4 dương lịch ngày nay), là đại lễ Vượt Qua mừng kính Đức Chúa. Vào ngày này người ta sát tế chiên lúc chập tối và sẽ ăn tiệc chiên Vượt Qua với bánh không men (x. Xh 12,21-27). Hôm sau, là bắt đầu tuần lễ Bánh Không Men kính Đức Chúa kéo dài bảy ngày. Trong tuần này, người Do Thái phải ăn bánh không pha men, để nhắc nhở cuộc Xuất hành thời Mô-sê. Cũng từ ngày 15 tháng Ni-xan, họ phải họp nhau để thờ phụng Đức Chúa và kiêng việc xác. Trong 7 ngày, họ phải tiến hành dâng lễ vật hỏa tế lên Đức Chúa. Đến ngày thứ Bảy là ngày kết thúc, họ phải tập họp lại để thờ phượng Đức Chúa và kiêng các công việc lao động nặng (x. Lv 23,5-8). + Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua tại đâu?: Môn đệ hỏi Đức Giêsu như hỏi một người chủ gia đình có trách nhiệm cử hành lễ Vượt Qua. Vì là dân nhập cư từ nơi khác đến Giê-ru-sa-lem, nên Đức Giêsu và các môn đệ được quyền tổ chức ăn mừng lễ Vượt Qua trước một ngày, tức vào lúc 6 giờ chiều ngày thứ Năm đầu ngày thứ Sáu, thay vì lẽ ra phải mừng vào 6 giờ chiều thứ Sáu tức đầu ngày thứ Bảy, mà năm ấy lễ Vượt Qua nhằm vào thứ Bảy (x. Ga 19,14.31.42). + Người sai hai môn đệ đi: Hai ông này là Phê-rô và Gio-an (x. Lc 22,8). + Sẽ thấy một người mang vò nước…: Đức Giêsu làm chủ không gian và thời gian: Người nhìn thấy trước mọi sự việc đúng như nó sắp xảy ra, cũng như có lần Người thấy trước Na-tha-na-en lúc đang ngồi dưới gốc cây vả (x.Ga 1,48).

C 14-16: + Các ông dọn tiệc Vượt Qua: Theo tục lệ cổ truyền, khi ăn thịt chiên tại nhà, mọi người phải đứng, lưng thắt gọn gàng, chân đi dép, tay cầm gậy và ăn cách vội vã (x. Xh 12,11). Nhưng đến thời Đức Giêsu, người Do Thái không còn giữ tục lệ ấy. Khi ăn tiệc, họ cũng theo cách thức ăn tiệc của văn hóa La-Hy (La-tinh Hy-Lạp) đương thời: Thực khách dự tiệc nằm trên một tấm thảm, đầu nghiêng về một bên và dựa vào cánh tay trái dùng làm gối. Còn tay mặt thì dùng để lấy đồ ăn.

VỀ VỊ TRÍ TRONG BỮA TIỆC LY VƯỢT QUA: Người môn đệ được Đức Giêsu yêu quí là Gio-an nằm ở bên phải Đức Giêsu và có lúc đã tựa đầu vào ngực Thầy (x. Ga 13,25). Tiếp đến là Phê-rô nằm cạnh Gio-an. Chính ông Phê-rô đã làm hiệu và bảo Gio-an: “Hỏi xem Thầy muốn nói về ai vậy?” (Ga 13,24). Còn Giu-đa nằm ở bên trái Đức Giêsu. Điều này giải thích tại sao Đức Giêsu trả lời cho Giu-đa mà các môn đệ khác không nghe được (x. Mt 26,25), và việc Đức Giêsu dễ dàng “chấm một miếng bánh trao cho Giu-đa” (x. Ga 13,26). Ngoài ra, về vị trí của các môn đệ khác thì khó xác định.

C 22: + Cũng đang bữa ăn: Mác-cô tường thuật việc Đức Giêsu lập Phép Thánh Thể trong khung cảnh bữa tiệc ly Vượt Qua. Đức Giêsu đã theo diễn tiến bữa tiệc Chiên Vượt Qua để truyền cho bánh rượu trở nên Mình Máu thánh của Người (x. Ga 6,51-58). + Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra trao cho các ông: Đây là những cử chỉ Đức Giêsu đã làm nhiều lần trước đó như: Hai lần làm cho bánh nhân ra nhiều (x. Mc 6,41; 8,6); Một lần làm trong bữa Tiệc ly Vượt Qua (x. Lc 22,19); Một lần Chúa Phục sinh làm khi ngồi ăn tối với hai môn đệ làng Em-mau (x. Lc 24,30)… Cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng là cử chỉ mà gia trưởng phải làm trong nghi lễ tiệc Chiên Vượt Qua theo luật Mô-sê, sau khi các người đồng bàn hát kinh Ha-len phần I (gồm Thánh vịnh 112-113) và uống chén rượu thứ hai. “Bẻ bánh ra và trao cho các ông” là hai cử chỉ mang ý nghĩa hiệp thông và huynh đệ cộng đoàn. + Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy: Trong niềm tin Ki-tô giáo, Đức Giêsu đã dùng quyền năng để biến đổi bản chất của tấm bánh trở nên Thân Mình của Người, chứ không phải chỉ là biểu tượng cho Mình Chúa, như có người lầm tưởng (x. Ga 6,51-58; 1 Cr 11,23-25).

C 23-25: + Và Người cầm chén rượu…: Chén rượu với lời tạ ơn ở đây là chén rượu thứ ba trong nghi lễ tiệc Chiên Vượt Qua. Đức Giêsu dùng chén rượu thứ ba này để thiết lập Giao ước Mới. + Đây là Máu Thầy, Máu Giao ước, đổ ra vì muôn người: Đây là Máu Giao ước Mới, khác với Giao ước Cũ thời Xuất hành, đã được ghi lại trong sách Xuất hành như sau: “Bấy giờ ông Mô-sê lấy máu rảy lên dân và nói: “Đây là máu Giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này” (Xh 24,8). Trong nghi lễ Giao ước Xi-nai được thiết lập giữa Thiên Chúa với dân Ít-ra-en, người ta giết bò, rồi vị tư tế lấy máu nó rảy trên bàn thờ và trên dân chúng. Máu đó là dấu chỉ mối tương quan mới và sự hiệp thông giữa Đức Chúa với dân Ít-ra-en. Trong thời Tân ước, Giao ước Mới được thiết lập bằng Máu Đức Giêsu Con chiên Thiên Chúa, là dấu chỉ sự hiệp thông mới giữa Thiên Chúa với Hội Thánh là dân Ít-ra-en Mới. Máu sắp đổ khi Đức Giêsu chịu khổ nạn thập giá. Cái chết của Người sẽ đền tội thay cho loài người và ban ơn cứu độ cho muôn người. + Chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày ấy, ngày Thầy được uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa: Đến ngày tận thế, sau khi lịch sử nhân loại chấm dứt và Nước Thiên Chúa xuất hiện, Đức Giêsu sẽ uống rượu mới với các tín hữu được cứu độ trong bữa tiệc cánh chung. Hình ảnh này diễn tả sự hiệp thông chia sẻ trọn vẹn và chung cuộc giữa các môn đệ với Đức Giêsu và với Thiên Chúa.

4. CÂU HỎI: 1)Đức Giêsu thiết lập phép Thánh Thể ở đâu, khi nào và lập để làm gì? 2)Luật Mô-sê qui định thế nào về lễ Vượt Qua và tuần lễ Bánh Không Men? 3)Tại sao Đức Giêsu và các môn đệ lại ăn lễ Vượt Qua vào tối thứ Năm thay vì vào tối thứ Sáu là lúc bắt đầu đại lễ Vượt Qua năm đó? 4)Hai môn đệ nào được Đức Giêsu sai đi dọn cho thầy trò ăn mừng lễ Vượt Qua? 5)Theo tục lệ, người Do thái phải ăn lễ Vượt Qua như thế nào? Đức Giêsu và các môn đệ ăn tiệc Vượt Qua theo cách nào? 6)Dựa vào Tin Mừng, hãy cho biết vị trí ngồi của các ông Gio-an, Phê-rô và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt trong bàn tiệc? 7)Đức Giêsu đã lập phép Thánh Thể, truyền cho bánh rượu trở nên Mình Máu Người theo thứ tự nào? 8) Những cử chỉ Đức Giêsu làm khi truyền phép giống với các cử chỉ Người đã làm trong các hoàn cảnh nào? 9)Bạn nhận định thế nào về ý kiến cho rằng: Sau khi truyền phép bánh không biến thể sang Mình Thánh Chúa, mà chỉ trở thành biểu tượng Mình Thánh Chúa thôi? 10)Chén rượu được truyền phép trở thành Máu Thánh Đức Giêsu là chén rượu thứ mấy trong bữa tiệc chiên Vượt Qua của đạo Do Thái? 11)Phân biệt Máu Giao Ước Mới mà Đức Giêsu sắp đổ ra trong cuộc khổ nạn có giá trị và hiệu quả khác với máu chiên bò sát tế trong Giao Ước Cũ thời Mô-sê như thế nào? 12)Đức Giêsu hứa sẽ hiệp thông và chia sẻ bằng việc uống rượu mới với môn đệ trong Nước TC sẽ xuất hiện khi nào?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: “Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy” (Mc 14,22):

2. CÂU CHUYỆN: KỶ VẬT TÌNH YÊU

Có một đôi vợ chồng trẻ kia mới lấy nhau được mười năm và đã có với nhau một đứa con gái 4 tuổi. Trong thời gian đó họ đã sống rất hòa hợp hạnh phúc. Mỗi ngày trước khi rời nhà đi làm buổi sáng, và chiều tối khi về đến nhà, anh chồng không khi nào quên trao cho vợ và con gái cử chỉ âu yếm kèm theo một lời yêu thương. Nhờ đó tình yêu giữa hai vợ chồng và đứa con thơ ngày một bền vững. Nhưng rồi hạnh phúc của họ đã bị đe dọa khi một hôm người chồng đi làm về bị trúng mưa và được đem đến bệnh viện điều trị. Sau khi khám bệnh, bác sĩ chẩn đoán anh bị ung thư màng phổi ác tính thời kỳ thứ ba. Một tuần sau anh qua đời. Trước khi chết, anh gọi vợ con lại gần và thều thào trăn trối: “Em và con yêu quí! Có lẽ sắp tới giờ Chúa gọi anh về. Anh đã chuẩn bị và sẵn sàng vâng theo ý Chúa. Anh chỉ tiếc một điều là không còn được sống bên em và con nữa. Trước khi đi xa, anh không có gì trối lại cho em ngoài chiếc nhẫn mà vợ chồng mình đã tặng nhau khi kết ước cách đây mười năm. Bây giờ anh xin tặng lại chiếc nhẫn kỷ vật này cho em, để mỗi lần thấy nó, em biết rằng anh vẫn luôn ở bên em và hằng cầu Chúa cho em được hạnh phúc”. Nói xong, anh tháo chiếc nhẫn đang đeo và âu yếm xỏ vào tay vợ, giống như trước đây anh đã từng làm trong lễ hôn phối. Nói xong anh ra đi trước sự thương tiếc vô vàn của vợ con. Rồi anh được an táng tại đất thánh gần nhà. Từ đó, mỗi ngày người ta đều thấy một phụ nữ còn rất trẻ, đầu đội khăn tang, tay cầm bó bông, dắt theo đứa con gái còn nhỏ dại đi vào nghĩa trang. Chị ta đứng hằng giờ trước ngôi mộ cỏ mọc chưa xanh của người chồng quá cố để cầu nguyện cho anh. Trên tay chị có đeo hai chiếc nhẫn: Một chiếc của ngày thành hôn và chiếc kia là kỷ vật của chồng tặng trước khi từ giã cuộc đời.

3. SUY NIỆM:

Hơn hai ngàn năm trước đây, Đức Giêsu đã làm một công việc tương tự: Biết rằng “Giờ đã đến, Giờ Con Người phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, và Người đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Người đã lập phép Thánh Thể, để lại cho Hội Thánh kỷ vật là dấu hiệu của một tình yêu lớn lao tột đỉnh. Kỷ vật đó chính là Mình Máu thánh của Người dưới hình bánh rượu, làm của ăn của uống thiêng liêng để các tín hữu được hiệp thông với Người. Tin Mừng Mác-cô đã tường thuật việc Đức Giêsu lập phép Thánh Thể trong khung cảnh bữa tiệc Chiên Vượt Qua (x Mc 14,22-24), như Người đã hứa trong bài giảng về Bánh Hằng Sống tại hội đường thành Ca-phác-na-um (x. Ga 6,51-58). Vậy Đức Giêsu thiết lập phép Thánh Thể lúc nào? Ý nghĩa cũa bí tích này ra sao? Ngày nay chúng ta phải cử hành bí tích Thánh Thể thế nào để đạt hiệu quả cao nhất?

1) THIẾT LẬP BÍ TÍCH THÁNH THỂ: Đức Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể trong bữa tiệc Chiên Vượt Qua cũng là bữa ăn cuối cùng trước khi từ biệt các môn đệ để bước vào cuộc khổ nạn, Người sử dụng bánh không men và rượu nho dùng trong bữa tiệc Vượt Qua của đạo Do thái để biến nên Thịt Máu Người, hầu ban cho những kẻ ăn Thịt uống Máu ấy sẽ được sống đời đời. Thánh Mác-cô đã thuật lại câu chuyện Đức Giêsu lập phép Thánh Thể như sau: “Cũng đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra trao cho các ông và nói: Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy. Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: Đây là Máu Thầy, Máu Giao Ứớc, đổ ra vì muôn người” (Mc 14,22-24).

2) Ý NGHĨA CỦA BÍ TÍCH THÁNH THỂ: Tin Mừng đã ghi nhận bốn sự kiện liên quan đến bí tích Thánh Thể như sau: Một là phép lạ Đức Giêsu biến nước lã thành rượu nho tại tiệc cưới thành Ca-na, tiên báo về việc biến rượu trở nên Máu Người trong bữa Tiệc Ly sau này (x Ga 2,1-11). Hai là phép lạ Đức Giêsu nhân bánh ra nhiều tại thành Ca-phác-na-um, sau đó Người cho biết sẽ ban Thịt Máu Người làm của ăn của uống thiêng liêng đem lại sự sống đời đời cho ai lãnh nhận (x Ga 6,1-14.32-35.48-58). Ba là bữa Tiệc Ly Vượt Qua, trong đó Người dùng bánh rượu trong tiệc Chiên Vượt Qua để thiết lập bí tích Thánh Thể và truyền cho các môn đệ: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,14-19). Bốn là Đức Giêsu chủ sự lễ Bẻ Bánh với hai môn đệ tại làng Em-mau, trong đó Người dùng Thánh Kinh rao giảng mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh, đồng thời lặp lại các cử chỉ và lời đọc như trong bữa Tiệc Ly. Từ đó trở thành khuôn mẫu của thánh lễ sau này (x Lc 24,13-32).

Mình Thánh Chúa là món quà quí giá nhất mà Đức Giêsu đã trao tặng cho chúng ta. Người tự hiến trọn vẹn bằng việc ban Thịt Máu Người làm của ăn thức uống để nuôi dưỡng đức tin của chúng ta và để có thể ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (x. Mt 28,20). Mặc dù trí khôn không thể hiểu thấu mầu nhiệm này, dù giác quan chúng ta không cảm thấy có sự khác biệt giữa tấm bánh trước và sau khi truyền phép, nhưng đức tin dạy chúng ta rằng: Sau lời truyền phép của linh mục Chủ Tế trong thánh lễ thì bánh rượu liền hóa nên Mình Máu Chúa Giêsu dựa vào lời Người đã phán: “Vì Thịt Tôi thật là của ăn, và Máu Tôi thật là của uống. Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,54-56). Quả thật, chỉ có trái tim của một người Cha, một người Thầy yêu thương đến tột cùng mới có thể nghĩ ra cách thức trao tặng con cái và môn đệ một món quà vừa thiết thực lại vừa kỳ diệu đến như vậy!

3) HIỆP THÔNG VỚI CHÚA ĐỂ CHIA SẺ VỚI ANH EM:

Sau đây là một số việc các tín hữu có thể làm để đáp lại tình thương của Chúa Giêsu Thánh Thể: Mỗi ngày năng tham dựThánh lễ và dọn mình lên rước lễ sốt sắng, năng dự giờ chầu Mình Thánh Chúa. Trong ngày chu toàn việc bổn phận, kèm thêm các việc hy sinh bác ái dâng lên Chúa với lời nguyện tắt: “Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể. Con làm việc này như dâng một bông hoa hồng lên Chúa, biểu lộ lòng yêu mến của con. Xin Chúa vui nhận và ban cho một bệnh nhân sớm được lành bệnh, cho một tội nhân sớm được hối cải, cho một người lương sớm được nhận biết và yêu mến Chúa để cũng được hạnh phúc và được sự sống đời đời với con sau này”.

4. THẢO LUẬN: 1)Ta cần dọn mình trước và cám ơn sau khi rước lễ thế nào? 2)Ta cần chia sẻ Bánh Thánh Thể cho tha nhân bằng cách nào để góp phần kiến tạo Trời Mới Đất Mới công bình và yêu thương như ý Chúa muốn?

5. NGUYỆN CẦU:

LẠY CHÚA GIÊSU. Bàn tiệc Thánh Thể do Chúa lập ra để giúp chúng con thể hiện tình yêu thương hiệp nhất. Do đó, chúng con cần tránh những hành động ích kỷ và chia rẽ, như Tông đồ Phao-lô đã cáo trách giáo đoàn Cô-rin-thô: “Trước tiên tôi nghe rằng khi họp cộng đoàn, anh em chia rẽ nhau… Khi anh em họp nhau, thì không còn phải là ăn bữa tối của Chúa. Thật vậy, mỗi người lo ăn bữa riêng của mình trước. Và như thế kẻ thì bị đói, người lại no say! Anh em không có nhà để ăn uống sao? Hay anh em khinh Hội Thánh của Thiên Chúa và làm nhục những người không có của? … Cho nên thưa anh em, khi họp nhau để dùng bữa, anh em hãy đợi nhau. Ai đói thì ăn ở nhà, kẻo anh em đến họp mà hóa ra để bị kết án!” (1 Cr 11,18-22.33-34). Vậy xin Chúa giúp chúng con biết hiệp thông với cộng đoàn bằng cáchvào nhà thờ dự lễ thay vì đứng bên ngoài, hiệp lời kinh tiếng hát chung cộng đoàn. Sau khi đón nhận Chúa, xin cho chúng con biết chia sẻ Chúa với tha nhân bằng vịệc đi bước trước làm quen những người mới gặp, nhường chỗ tốt cho người già cả tật bệnh và quan tâm cầu nguyện cho những người đang sống bên chúng con.

LẠY CHÚA. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng: “Chúng con phải sống bí tích Thánh Thể”, nghĩa là phải trở nên tấm bánh được bẻ ra cho một thế giới mới. Xin cho chúng con ý thức rằng: Đức Giêsu đang ở trong chúng con và cùng hành độngvới chúng con. Người đang nhờ chúng con đến với tha nhân, để an ủi động viên những người lao nhọcbênh vực những kẻ cô thế cô thân, mời gọi những kẻ tội lỗi hồi tâm sám hối, chia sẻ cơm bánh cho những người đói khát, khiêm nhường phục vụ những người bất hạnh... Nhờ đó, chúng con hy vọng sẽ được Chúa ban ơn cứu độ trong ngày phán xét sau này.

X. HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.

Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
 

Bài 14. Lương thực Thần Linh
Lm Gia-cô-bê Tạ Chúc

Trong ngày kỷ niệm ngày lương thực Thế giới thứ 30, Liên Hiệp Quốc cho biết con số người sống trong tình cảnh đói kém trên thế giới đã giảm xuống gần 1 triệu người trong năm ngoái, tuy nhiên vẫn nằm ở mức 925 triệu người. Mỗi một con người trung bình cần đến một lượng Kcalo nhất định để đảm bảo cuộc sống, mỗi người thường có nhu cầu riêng về lương thực và thực phẩm xác định bằng khẩu phần ăn hàng ngày, phụ thuộc vào lứa tuổi, hoạt động nghề nghiệp, vào kích thước cơ thể và giới tính. Nhìn chung, lao động công nghiệp nặng ở người châu Âu trong khoảng 8 giờ đòi hỏi khoảng 2.400 Kcalo đối với nam và 1.600 Kcalo đối với nữ. Đối với người Việt Nam, nhu cầu có thấp hơn một ít: 2.100 kcal và 1.400 Kcal.

Lương thực vật chất cần biết bao cho mạng sống con người. Dù ở địa vị nào đi chăng nữa con người vẫn rất cần các nguồn năng lượng nuôi sống chính mình. Cũng không lạ gì khi người ta bảo “Có thực mới vực được đạo”. Các Kcalo và các protein là những nguồn sống cho cơ thể mỗi người. Đức Giê-su cũng đồng bàn với các môn đệ và người đương thời với Ngài. Ngài ăn lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do Thái. Xem ra Chúa Giê-su đã chuẩn bị một cách hết sức chu đáo cho bữa tiệc đặc biệt này. Để chuẩn bị cho việc ăn lễ vượt qua, Đức Giêsu căn dặn các môn đệ là đi vào thành, theo người mang vò nước, nói chuyện với chủ nhà và dọn tiệc vượt qua. Người nói cho các môn đệ biết trước những gì sẽ xảy ra và dặn các ông phải nói gì với chủ nhà. Rõ ràng Người đang hành xử như một ông chủ có thẩm quyền, nắm giữ trong tay mọi sự, và đích thực là người làm chủ tình hình, biết rõ mọi việc và hoàn toàn kiểm soát tất cả những gì xảy ra.

Dân Do Thái ăn lễ Vượt Qua để đánh dấu một sự kiện rất quan trọng đó là Thiên Chúa giải cứu họ thoát khỏi ách nô lệ ở Ai-cập. Còn Chúa Giê-su, Ngài ăn lễ Vượt qua để lập Bí Tích Thánh Thể, một khắc ghi sự có mặt của Ngài trong mỗi lần chúng ta ăn và uống.“Đang bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy.” Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người. Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa” (cc.22-25). Con người cần của ăn để nuôi thân, nhưng con người không thể nào phủ nhận thứ lương thực “trường sinh bất tử”, đó chính là Máu Thịt của Chúa Giê-su. Nguồn lương thực của nhân loại đang ngày càng bị đe dọa bởi sự tăng triển dân số, môi trường bị tàn phá, bị ô nhiễm, sự biến đổi khí hậu toàn cầu, khoảng cách quá lớn giữa các nước giàu và nghèo, nguy cơ chiến tranh hạt nhân. Còn Nguồn lương thực của Chúa Giê-su không hề cạn kiệt bao giờ, như chính từ lời Đức Giê-su: “ Ai ăn Thịt và uống Máu Ta thì sẽ sống muôn đời”.

Lạy Chúa Giê-su, xin ban cho chúng con thứ lương thực vĩnh cửu để chúng con khỏi phải đói và khỏi phải chết. Thực phẩm mà con người có được chỉ nuôi nhân loại trong một thời gian nhất định, còn Thánh Thể của Ngài, sẽ nuôi con mãi mãi trong sự sống viên mãn vô cùng. Amen.

Bài 15. SAN SẺ PHẦN QUÀ NHÂN LOẠI
M. Hoàng Thị Thùy Trang

Bí tích Thánh Thể, một trong bảy bí tích căn bản của đạo Kytô giáo. Và cũng là một trong những bí tích mầu nhiệm không mấy dễ dàng lý giải.

Kể cũng phải, để tin Mình Máu của một ai đó, ẩn trong tấm bánh bé nhỏ nuôi sống nhân loại, thật không đơn giản chút nào. Nhưng nếu đã gọi là bí tích, cũng là nói đến sự bí nhiệm, một sự mầu nhiệm. Theo giáo lý công giáo, bí tích chính là những dấu chỉ hữu hình được Đức Giêsu thiết lập để thông ban ơn thánh bên trong. Do đó, nếu chỉ nhìn vào dấu chỉ mà lý luận, phán đoán, tất nhiên sẽ không thể nào hiểu được mầu nhiệm sâu xa ẩn chứa. Chỉ khi nào, nhìn bí tích như là một dấu chỉ, để rồi lấy đức tin mà đón nhận, khi ấy mới hy vọng được ánh sáng chân lý soi dẫn.

Nếu đã dùng con mắt đức tin để mà suy niệm, kiểm chứng… thì việc tin nhận bí tích Thánh Thể chính là Mình Máu của Đức Giêsu, hiến thân làm của nuôi linh hồn cho nhân loại đã trở nên dễ dàng hơn. Tấm bánh thánh tinh khiết ấy là dấu chỉ để nhân loại đón nhận của ăn linh hồn. Cơ thể cần dinh dưỡng để sống, tâm hồn cũng cần năng lượng để tồn tại. Năng lượng duy nhất có thể làm cho linh hồn trở nên bất tử chính là Máu Thịt của Đức Giêsu. Vì Ngài chính là bánh trường sinh, là Lời sự sống. Tất cả chúng ta, những tín hữu Kytô giáo, chúng ta cần phải được nuôi dưỡng, bồi bổ đức tin hằng ngày bằng Mình Thánh Chúa, bằng Lời Chúa qua các thánh lễ, các giờ kinh, những viêc làm đạo đức… Thiếu tất cả những hành động tin ấy, chúng ta không thể trở thành người Kytô hữu đích thực được.

Mục đích của việc thiết lập các bí tích, không gì khác hơn là ý muốn thông ban ơn thánh cho nhân loại. Chỉ vì yêu thương con người, muốn cho con người được sống và sống hạnh phúc, Ngài đã thiết lập nên các bí tích, để qua đó, hằng ngày con người có thể sống mật thiết với Thiên Chúa, tiếp cận với Ngài, không phải hữu hình nhưng bằng đức tin.

Bí tích Thánh Thể cũng chính là bí tích tình yêu, Đức Giêsu đã tự hiến, trở nên tấm bánh nuôi sống nhân loại. Như xưa kia, trong sa mạc, Thiên Chúa cho manna từ trời rơi xuống nuôi sống dân riêng của Ngài như thế nào thì ngày nay Đức Giêsu vẫn hằng luôn hiện diện trong tấm bánh bé nhỏ ngự trong Đền thờ để nuôi sống con người như vậy: “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy. Đây là máu Thầy, máu Giao Ước đổ ra vì muôn người” (Mc 14, 22.24).

Đức Giêsu chính là Giao Ước của Thiên Chúa và con người. Giao Ước tình yêu thuở đầu tạo dựng đã bị ông bà nguyên tổ phạm tội phá vỡ. Chính Đức Giêsu, vị thiên sứ tình yêu đã từ trời đến trần gian thiết lập lại Giao Ước mới. Giao Ước được kí kết không phải bằng lời nhưng bằng chính mạng sống, hơi thở của Ngài.

Nhờ bởi Giao Ước mới, nhân loại được hòa giải với Thiên Chúa, được sống no thỏa trong ân tình của Ngài, và được cưu mang sự sống vĩnh cửu đời sau. Chỉ cần tin vào Thiên Chúa, chỉ cần tin vào tình yêu của Ngài, chỉ cần tin Ngài đã toàn thắng sự dữ, đem lại cho chúng ta cuộc sống bất diệt.

Nếu thực sự bạn là Kytô hữu, nếu thực sự bạn tin Đức Kytô, có lẽ bạn không thể hoài nghi sự hiện diện của Ngài trong bánh thánh. Ngược lại, bạn còn hằng cảm tạ hồng ân bao la bất tận ấy. Một sự tự hủy, tận diệt đến tột cùng để cho con người được sống và hạnh phúc.

Mầu nhiệm trong thế giới đương đại ngày nay không còn mấy khó hiểu nữa, vì hằng ngày có biết bao nhiêu chuyện không thể ngờ, ngoài sức tưởng tượng của con người mà vẫn có thể xảy ra… do con người! Vấn đề mấu chốt chỉ là tin thôi. Nếu như nhân loại nhìn nhận, vẫn ẩn chứa đâu đây, trên thế giới này, có biết bao điều kỳ diệu xảy ra quanh ta, thì người Kytô hữu phải chân nhận rằng, sự thật về những điều kỳ diệu ấy thuộc về Thiên Chúa, ở trong bàn tay điều khiển quyền năng của Ngài.

Lạy Chúa, cảm ơn Ngài đã yêu con và nuôi sống con hằng ngày. Không được diễm phúc tận mắt chiêm ngắm dung nhan Thiên Chúa, nhưng con lại được tận mắt, tận tay cảm nhận sự hiện diện hữu hình linh thiêng của Ngài trong vũ trụ. Cảm tạ hồng ân Thánh Thể, đã nuôi sống hồn con vào những lúc tối tăm, nghi ngại, hoảng sợ hay thất vọng nhất… Vẫn có đó, nơi nhà Tạm, ngay trong chính Đền thờ tâm hồn con, Thiên Chúa Tình Yêu luôn luôn ngự trị. Xin cho con sống vui mỗi ngày, vì đã có lương thực Thánh Thể nuôi sống hồn con. Cho dù có phải đang lặn lội, bôn ba, dò dẫm trên con đường kiếm tìm, bảo tồn sự sống phần xác thì tâm lòng vẫn luôn hân hoan vui sướng vì năng lượng tâm hồn luôn tràn đầy bởi sức sống thần linh. Xin giúp con, đừng vì tham vọng của nuôi xác phàm nay còn mai mất, mà bỏ quên của ăn vĩnh cửu trên trời cho con cuộc sống bất diệt. Chớ gì mỗi ngày trên thế giới, ai cũng biết rộng tay giúp đỡ, san sẻ phần quà nhân loại cho nhau, để đổi lấy sự sống vĩnh cửu trên quê trời Chúa nhỉ?!
 

Bài 16. Đại Tiệc Miễn Phí
AM Trần Bình An

Vào thời điểm sau lễ Phục Sinh, nhiều gia đình Công Giáo, hoặc đa số dân Việt vào cuối năm, thường đua nhau tổ chức đám cưới. Nhiều nhà nhận được vài ba thiệp cưới trùng vào một ngày, phải lo chia nhau đi dự, dĩ nhiên còn hoan hỉ đóng hụi chết tùy hỷ, cho khỏi thiếu sót món nợ đồng lần.

Thế nhưng, Chúa Giêsu lại chuyên tổ chức Đại Tiệc, ân cần mời gọi mọi người đến tham dự, mà không cần nhận lại hồng bao. Trong dụ ngôn tiệc cưới, Chúa hào phóng chiêu dụ: “ Vậy các ngươi đi ra các nẻo đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới”..(Mt 22, 9)

1. Đại Tiệc miễn phí

Chúa Giêsu khẩn khoản kêu gọi mọi người đến dự Đại Tiệc hoàn toàn miễn phí, bởi vì con người tạo vật nào có gì đáng kể đối với Người. Không những miễn phí, mà Người còn tha thiết chờ đón con người đến hưởng nhận: ”Chính Ta là bánh ban sự sống. Ai đến với Ta sẽ không hề đói. Ai tin vào Ta, sẽ không hề khát bao giờ”(Ga 6,35). Hơn nữa, Người còn cảnh báo tín hữu, nếu không đến dự Đại Tiêc, thì tương lai không thể nào sáng sủa. “Thật, tôi bảo thật các ông: Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình.”(Ga 6, 53)

2. Đại Tiệc đại chúng

Không phận biệt sang hèn, thân phận, tài năng, hay đẹp xấu, đạo đức hay tội lỗi, Chúa Giêsu đều thân thương đón chào mọi người vào tham dự bàn Đại Tiệc với Người: Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.”(Mt 22, 10) Những ai bần hàn, đói khát, Người càng quan tâm chăm sóc, như sẵn lòng bỏ chin mươi chin con chiên ngoan, đi tìm một con chiên lạc.(Lc 15, 4-6)

3. Đại Tiệc thường trực

Không phải Đại Tiêc chỉ năm thì mười họa mới khai trương, mà trái lại được mở hằng ngày, liên tục trên khắp mặt đất. Qua Mình và Máu, Chúa Giêsu hằng ngày chiêu đãi và nuôi dưỡng: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”(Mt 28, 20) Mỗi Thánh Lễ là một Đại Tiệc, cho dù vị chủ tế bất toàn đi nữa, nhưng khi ngài đặt tay thánh hóa rượu, bánh, thì Bí Tích Thánh thể vẫn trở nên trọn vẹn hoàn hảo.

4. Đại Tiệc hiệp nhất

Nhờ mầu nhiệm Thánh Thể, các tín hữu được kết hợp mật thiết với chính Chúa Giêsu, đồng thời được thông công kết hiệp với Ba Ngôi Thiên Chúa. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy.(Ga 6, 57). Đối với tín hữu, không phân biệt địa vị, giàu nghèo, thì cũng nhờ lương thực Thần Thánh đó, trở nên bình đẳng và hiệp nhất, gắn bó chặt chẽ như cành nho với nhau.

“Thánh Thể làm cho ta hiệp nhất trong Nhiệm Thể. Dâng lễ, dự lễ mà không yêu thương là mâu thuẫn, quái gở” (ĐHV, số 362).

5. Đại Tiệc trường sinh

Hơn nữa, ai dự Đại Tiệc này, sẽ được trường sinh bất tử, như chính Chúa Giêsu đoan quyết:“Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!” (Ga 6, 35).

Người còn cặn kẽ diễn giải lý do sâu xa: “Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết. Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6, 39-40).

Tóm lại, chỉ với điều kiện duy nhất, khách mời phải mặc tấm áo phù hợp, để xứng đáng tham dự vào Đại Tiệc của Chúa Giêsu khoản đãi. Nếu khách dự tiệc, mà lại dửng dưng, không rước Mình Chúa, thì rất đáng tiếc, chỉ đến dự thính xuông, chứ không được thưởng thức cao lương mỹ vị tuyệt hảo, là chính Máu và Thịt Đấng Cứu Thế.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin cho các Linh mục đã được thánh hiến, luôn trung thành, cung kính và yêu mến Thánh Thể, để có thể hằng ngày trao ban Bí tích Cực Thánh này cho con chiên, được chung hưởng hồng ân cứu độ.

Lạy Mẹ Đồng Công cứu Chuộc, Máu Thánh của Chúa cũng bắt nguồn từ cung lòng Mẹ, để mặc lấy xác phàm, xin cho con lòng hằng sốt mến với Thánh Thể, tôn kính bái chầu và long trọng rước vào lòng, để con được thánh hóa, trở nên con cái Thiên Chúa. Amen.
 

Bài 17. “Này là Mình Máu Ta”
Tuyết Mai

Đang khi họ ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các ông mà phán: “Các con hãy cầm lấy, này là Mình Ta”. Rồi Người cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các ông và mọi người đều uống. Và Người bảo các ông: “Này là Máu Ta, Máu tân ước sẽ đổ ra cho nhiều người”. (Mc 14, 12-16. 22-26).

Ai trong chúng ta trên trần gian này lại yêu nhau đến độ có thể dâng hiến chính thân xác và máu của mình cho người mình yêu bao giờ chưa nhỉ!? Một tình yêu tự hiến. Một tình yêu vô vị lợi. Một tình yêu mà không cần có sự đáp trả. Một tình yêu không có sự tính toán trước, không so đo, không tiếc nuối, không đắn đo, không cần đòi hỏi ở sự gì nơi người mình yêu. Yêu người một cách tuyệt đối. Yêu người một cách thiết tha. Yêu người một cách điên rồ. Yêu người một cách dại dột. Yêu người một cách thinh lặng, không một tiếng than, không một lời trách móc, không một hành động kháng cự.

Yêu người mà người lại chẳng yêu ta, yêu một cách nhưng không, yêu một cách mù quáng, yêu một chiều, yêu chỉ biết chờ đợi… một tình yêu đáp trả dù là thật khiêm nhường ở nơi người mình yêu như nhận được một nụ cười, một ánh mắt thông cảm, hay dù là một sự chờ đợi chẳng bao giờ có, vì làm sao có thể cắt nghĩa cho người mình yêu hiểu được rằng Người vẫn chờ vẫn đợi, dẫu biết rằng sự chờ đợi ấy vẫn hoài không.

Yêu người mà người chẳng biết chẳng hay. Yêu người mà cứ mong mỏi đợi chờ cho dù người yêu của mình đã ngoảnh mặt làm ngơ, hay còn tệ hơn nữa là biết tình yêu dâng hiến của Người, nhưng lại nhẫn tâm chà đạp một mối tình trinh nguyên thiêng liêng đó!? Người đã yêu con người, cho con người, và chết vì con người. Người đã hy sinh mạng sống của mình vì con người, và vì Người có một trái tim luôn rực lửa đỏ của yêu thương của trao ban và của mời gọi. Người sinh ra đời trên cõi trần gian này cũng vì Người muốn mời gọi con người đến cùng Người để được chia sẻ, cảm thông, an ủi, và yêu thương. 

Vì Thiên Chúa hiểu được rằng trần gian là bể khổ. Trần gian là Sinh, Bệnh, Lão, Tử. Trần gian là đầy những Tham, Sân, Si. Nên Người muốn cùng chia sẻ với con người hiểu được rằng sự sống vĩnh viễn và hạnh phúc không phải là ở trên trần gian này, nên cho Con của Người là Giêsu đã phải được sinh ra trên trần gian này sống suốt 33 năm, rao giảng về Nước Thiên Chúa, là nơi mà Người Con Giêsu đã xuất thân, sẽ trở về, là Nơi mà Thiên Chúa muốn mời gọi tất cả con cái của Người cùng được sống hạnh phúc bên Người.

Thiên Chúa yêu con người đến đỗi Con của Người phải trải qua một cuộc đời sống tạm, trong thân xác yếu đuối của một người phàm, và để vinh danh Thiên Chúa Cha qua tình yêu trao ban nhưng không của Người Con là Thiên Chúa Ngôi Hai Giêsu. Một tình yêu vô bờ bến ấy, quả không thể nào tìm ra một ai khác trong chúng ta, ngoài ông Giêsu người Nazareth mà thôi!.

Trong chúng ta không biết có những ai đã từng trải qua một mối tình tuyệt vọng tương tự như ông Giêsu chưa nhỉ!? Tôi thiết nghĩ tình yêu một chiều này chắc hẳn cho chúng ta những sầu khổ, buồn tủi, đau đớn, và tuyệt vọng lắm lắm!. Còn không thì trong cõi dương gian, chúng ta cũng đã từng đọc được rất nhiều chuyện tình hay xem được rất nhiều loại phim đại loại như thế! Tình yêu một chiều xẩy ra rất nhiều và rất thường cho những cậu học trò con nhà nghèo nhưng lại trèo cao, đi thương một mỹ nương con nhà giầu, để ngày thì thổn thức đêm về thì thức trắng ôm một mối tình tuyệt vọng. Chỉ dám mơ tưởng về người yêu của mình trong giấc ngủ chập chờn, và thỉnh thoảng cũng được mãn nguyện vì được gặp người mình yêu trong giấc chiêm bao… !!!?

Thưa tình yêu đời thường của con người đối xử với một con người là chỉ có thế, rất hạn hẹp, rất tính toán, như 2 lần 2 là bốn thực tế vậy mà khôn… như trong một bài hát mẹ dậy con gái chọn chồng trước năm 75 mà tôi thường thỉnh thoảng nghêu ngao hát. Có phải trên đời yêu nhau phải biết tính biết toán, chứ không thì sẽ gặp hiểm họa trên đời nếu yêu nhau cái kiểu một túp lều tranh với 2 quả tim vàng như nghệ sĩ Hùng Cường và Mai Lệ Huyền đã một thời làm rung chuyển cả sân khấu khi 2 anh chị trình diễn bài hát ấy!.

Nhưng tình yêu hải hà và độ lượng của Thầy Giêsu của chúng ta thì sao? Trên thế gian trần tục này đã được mấy ai là tin vào Ngài thật sự? Đã có mấy ai là tin vào Bí Tích Thánh Thể mà Ngài trao ban nhưng không cho chúng ta hằng ngày? Tin mà tin ở mức độ nào cơ chứ? Tin đến mức độ mà chúng ta có thể nghĩ được rằng Ngài hiện diện với tất cả chúng ta qua mỗi Thánh Lễ? Và phép lạ của Ngài là có thể chữa lành cho thể xác và tâm hồn của chúng ta ngay cả chúng ta chỉ có mặt trong Thánh Lễ? Vì Ngài thật sự có hiện diện trên Cung Thánh và trong nhà thờ anh chị em ạ! Điều đó đã được xác nhận bao nhiêu ngàn năm nay rồi! Chỉ vì chúng ta không muốn nhìn nhận và tin vào Ngài đấy thôi! Chỉ vì chúng ta vẫn cứng lòng tin cho nên phép lạ vẫn không chữa cho chúng ta được. Cho nên chúng ta kiếm đủ mọi cớ để không tìm đến với Ngài.

Sở dĩ chúng ta muốn xa lánh Chúa, vì có phải trong chúng ta đang chất chứa đầy dẫy muôn ngàn thứ tội, mà chúng ta cố tình không muốn bỏ, cho nên chúng ta tìm kiếm muôn ngàn triệu cớ để không đến với Chúa? Chỉ cần một chiến dịch cúm heo (swine flu) là làm cho tất cả chúng ta có sự e dè và biểu lộ sự sợ hãi một cách thật lộ liễu và thật ngây ngô hay không? Thường đến giờ vị linh mục phán: “Các con hãy chúc bình an cho nhau” thì toàn thể giáo dân bắt tay nhau và trao cho nhau bình an của Chúa, nay sao lạ thế???? Ai cũng sợ phải nắm tay nhau vì cái bệnh cúm heo, mà theo thống kê chính xác của bộ y tế trên toàn cầu thì số tử vong cho chúng ta một con số thật khiêm nhường, là chỉ độ vài chục người mà đã làm cho đức tin của chúng ta ra rung rinh và yếu kém đến độ thế ư!?? So sánh sao bằng cái chết đói xẩy ra hằng ngày cho bao nhiêu con người sống trên một đất nước nghèo. Tôi thiết nghĩ đó mới là điều chúng ta đáng để ý tới, đáng để tâm, và đáng được chúng ta đem lòng thương xót và giúp đỡ họ.

Rồi thì đức tin vốn đã yếu kém của chúng ta, lại ngăn cản chúng ta không đến rước Máu Thánh Chúa, vì sợ lây bệnh cúm heo??? Ôi, lậy Thiên Chúa lậy Thiên Chúa chúng con! Có phải Chúa đã từng chữa cho bao nhiêu người què quặt được đi đứng bình thường, bao nhiêu người mù được trông thấy, bao nhiêu người điếc được nghe, bao nhiêu người liệt lào được chỗi dậy và ca hát khen ngợi Thiên Chúa đấy sao! Bao nhiêu người phong cùi mà còn được lành sạch, người hoại huyết cũng được ơn Chúa ban cho lành sạch.

Chúa chữa lành cho tất cả những ai có lòng tin tưởng vào Ngài và ngay cả những người lương giáo. Còn chúng con là ai? Chúng con có phải hằng tuyên xưng đức tin của chúng con hằng ngày giữa muôn người là chúng con là người Kitô hữu. Người Kitô hữu phải tự hào về Thiên Chúa của mình tôn thờ chứ! Vâng, chúng ta phải biết hãnh diện về Thiên Chúa của chúng ta, vì Ngài chứng minh cho toàn thế giới biết rằng Ngài vẫn hằng ngày hiện diện trong nhà thờ, trong mọi Thánh Lễ, trong Bí Tích Thánh Thể, nhưng trong thực tế chẳng mấy ai tin Ngài có mặt và hiện diện ở đấy!.

Bởi đức tin của chúng con vẫn cứng cỏi quá Chúa Giêsu nhỉ! Nên chẳng phải cùng là con cái Chúa mà ai cũng may mắn gặp được Ngài cả đâu! Như có phải Ngài vẫn thường trách mắng những dân phariseu, biệt phái, và những nhà thông luật đạo đức giả xưa là bọn này sống giả hình. Chúng sống y như những mồ mả tô vôi thật đẹp đẽ bên ngoài còn bên trong lòng của chúng thì chẳng khác nào chứa đựng những con giòi con bọ lúc nhúc trông thật ghê tởm. Chúng chỉ tôn thờ Ta trên môi miệng. Chúng chỉ đè những gánh nặng trên đôi vai của những người nghèo khổ còn chúng ư! Một ngón tay chúng cũng không muốn bị mỏi mệt.

Chúng ăn cắp của những bà nghèo góa. Vâng, muôn đời thì ở mọi thời đại nào Chúa cũng vẫn gặp những con người như thế! Nhưng Thiên Chúa vẫn luôn chờ luôn đợi chúng con, và luôn cho chúng con có cơ hội để tìm gặp Ngài và trở về cùng Ngài, như tên tử tội cùng được đóng đinh bên phải của Chúa. Vì anh biết ăn ăn hối cải, nên Chúa Giêsu đã hứa ngay với anh trước khi Ngài trút hơi thở cuối cùng là anh sẽ được lên Trời ngay ngày hôm nay cùng với Ngài.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể!

Chúng con là những con người bất toàn, bất xứng, tội lỗi, đớn hèn, không đáng để Chúa ghé mắt, nhưng vì chúng con được sinh ra trong một thân xác luôn yếu hèn hay chết này, chúng con luôn luôn cần có Chúa trong cuộc sống ngày lại ngày này! Lạy Chúa xin cho tất cả chúng con đồng hiểu được rằng, cuộc đời trần gian chỉ là nơi sống tạm, và cuộc sống Trên Trời mới là quê Hằng Sống miên viễn muôn đời, là cùng đích chúng con phải tìm đến. Nếu chúng con không chịu sửa đổi thì e rằng linh hồn của chúng con sẽ bị ở một nơi mà lửa đời đời sẽ nung nấu chúng con đến thật khủng khiếp không có ngày ra Chúa ơi!

Nguyện xin Ba Ngôi Thiên Chúa từ bi nhân hậu, chớ chê chớ bỏ lời chúng con nguyện, một luôn yêu thương và hằng dậy dỗ chúng con, như Chúa đã hằng yêu thương bang trợ cho tất cả con người nhân loại chúng con từ thuở muôn đời. Amen.
 

Bài 18. CN Lễ Mình Máu Chúa
Jos. Hồng Ân

Bánh ăn là thứ lương thực vô cùng cần thiết để nuôi sống con người, nếu thiếu lương thực con người không thể tồn tại và phát triển dần dần đi đến sự chết, theo cơ quan Lương Nông liên hiệp quốc (FAO), ở nhiều nước trên thế giới, vẫn còn hàng trăm triệu người lâm vào cảnh thiếu lương thực. Cơ quan FAO đã đưa ra những con số về nạn đói, thiếu lương thực trên thế giới thật kinh hoàng: Hằng năm theo thống kê có khoảng 8,8 triệu người chết đói vì thiếu lương thực, phần lớn là trẻ con. Vì vậy, cung cấp lương thực cho người đói ăn là việc phải làm, là một nghĩa cử cao đẹp, là việc làm đầy tình người và yêu thương, như ca dao Việt Nam có câu: “Một miếng khi đói bằng gói khi no”.

Máu là một sản phẩm sinh học quý nhất, có tác dụng cứu sống, duy trì sức khỏe cho con người mà chưa có vật chất nào thay thế được. Từ lâu con người có tham vọng với nhiều chương trình nghiên cứu, chế tạo ra máu nhân tạo nhưng đến nay vẫn chưa thành hiện thực. Do đó, vấn đề hiến máu là hành động thiết thực, là một nghĩa cử vô cùng cao đẹp của những tấm lòng nhân ái đối với đồng loại, tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn khó khăn là điều phải làm.

Mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa hôm nay, chúng ta nhìn lại việc Chúa Giêsu đã lập Bí Tích Thánh Thể hay còn gọi là “Bí Tích Tình Yêu”, chiều thứ năm trước khi bước vào cuộc thương khó của Ngài. Quả thực, qua biến cố đó Chúa Giêsu đã trao ban Thịt Ngài làm của ăn để nuôi dưỡng, Máu của Ngài làm của uống, để “tiếp” sự sống cho nhân loại. Đó là một nghĩa cử vô cùng cao đẹp, đó là tấm lòng vô cùng nhân ái, là một tình yêu tuyệt đối của Chúa Giêsu dành cho loài người. Bởi vì con người đã và đang chết đói vì thiếu lương thực, cần được cung cấp bánh ăn để tiếp tục sống. Con người đang “thiếu máu”, “mất máu” cần được “tiếp” máu để sống. Nếu không có “Bánh thần lương” Chúa trao ban để nuôi sống nhân loại, không có Máu của Chúa Giêsu đổ ra để “tiếp” cho nhân loại, thì nhân loại sẽ đi tới chỗ diệt vong, như những người đói ăn, như những người thiếu máu, mà không có bánh để nuôi dưỡng cơ thể, không có máu để tiếp tục và duy trì sự sống, chỉ còn nằm chờ chết mà thôi. 

Giống như mọi tôn giáo cổ xưa, Do-thái giáo cũng nhận máu có tính cách thần thiêng và tượng trưng cho sự sống. Vì tính cách thần thiêng và tượng trưng ấy, máu có tầm quan trọng đặc biệt trong phụng vụ xá tội. Ngày lễ xá tội, vị thượng tế vào nơi cực thánh, đem theo máu các hy vật dâng lên Thiên Chúa để xin ơn xá tội cho mình và cho dân chúng. Theo thư Do-thái, việc làm của vị thượng tế trong Cựu Ước được coi là hình bóng tiên báo Đức Kitô lấy máu mình để cứu chuộc nhân loại.

Tội lỗi đã làm con người “hết lương thực” ốm yếu, tong teo và chết dần vì không có bánh ăn. Tội lỗi cũng làm con người “thiếu máu, mất máu”. Hơn nữa, nó còn là một thứ bệnh “máu trắng” tiêu diệt sự sống linh hồn con người. Nhờ vào tấm “Bánh” Mình Chúa con người được nuôi dưỡng, được lớn lên và phát triển không ngừng. Nhờ Máu Chúa Giêsu đổ ra xóa bỏ tội lỗi và phục hồi sự sống thiêng liêng nơi con người chúng ta. Chúa Giêsu đã cung cấp “Bánh” ăn cho nhân loại, Ngài “tiếp máu” sự sống của Thiên Chúa cho để nhân loại được sống và sống dồi dào. Chúa Giêsu đã lấy hết Thịt và Máu của Ngài để trao ban, để “tiếp” cho một nhân loại đang “hấp hối” vì đói ăn, vì “thiếu máu” do tội lỗi gây ra. Vì yêu thương Chúa đã lấy tấm “Bánh” Thân thể Chúa trao ban để phân phát cho nhân loại, Chúa đã đổ ra đến giọt máu cuối cùng để “tiếp” cho nhân loại. Người đã lấy Thịt Máu ban sự sống của Thiên Chúa để tạo thành một nhân loại mới, một dân được cứu chuộc. 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Mác-cô thuật lại việc chuẩn bị ăn mừng lễ vượt qua. Trong lễ Vượt Qua lần cuối này, thực sự các môn đệ, là những người thân cận của Chúa, đã không ngờ Thầy của họ làm một cử chỉ không bao giờ họ nghĩ tới, chưa hiểu ngay được. Chúa Giêsu đã tiên liệu nơi ăn lễ Vượt Qua: một phòng rộng rãi trên lầu của một gia đình mà các môn đệ đã theo lời chỉ dẫn của Chúa mượn được. Các môn đệ chỉ phải lo lễ vật để dùng trong bữa tiệc: bánh không men, rượu, thịt chiên và rau đắng, đó là thức ăn mà các môn đệ vẫn thường chuẩn bị như những lần ăn mừng lễ vượt qua khác. Các mộn đệ không hề biết Chúa sẽ làm gì trong bữa tiệc này. Nhưng chỉ mình Chúa biết việc Ngài sẽ làm trong lễ Vượt qua này. Bởi vì các môn đệ cũng đã từng ăn lễ Vượt Qua với Chúa. Tuy nhiên bánh và rượu những lần trước chỉ là bánh rượu bình thường. Còn trong bữa tiệc cuối cùng này, các môn đệ được ăn thứ “bánh hằng sống” là Thân Thể Chúa, chính Chúa cầm lấy bánh tạ ơn Thiên Chúa Cha, bẻ ra vào trao cho các ông và nói: “Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy”(Mc 14, 22). Các ông còn được uống thứ “Rượu” là Máu Chúa,Chúa cũng cầm chén rượu trao cho các ông mà nói: “Đây là Máu thầy, Máu giao ước mới, đổ ra vì nhiều người” (Mc 14. 23). Như thế, chính giờ phút ấy, chính lúc nói lời: “Bánh” và “Rượu” đã được biến đổi tận căn để trở thành Mình và Máu Chúa Giêsu. Bữa tiệc cuối cùng của Chúa chỉ diễn ra một lần, nhưng Chúa muốn bữa tiệc ấy, hy lễ ấy được lập đi lập lại mọi ngày cho tới tận thế: “Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22. 19). Và cũng ngay ngày hôm sau, trên núi Sọ, Máu của Chúa đã đổ ra và Thân xác của Chúa bị xé nát tan, bẻ ra để chia cho nhân loại. Hy lễ trên núi Calvê chỉ diễn ra một lần nhưng bao trùm và có giá trị mãi mãi trong dòng lịch sử nhân loại. Mỗi khi chúng ta ăn “Bánh” và uống “Rượu” là chúng ta được thông hiệp, trở nên một với Chúa Giêsu.

Khi trao tấm bánh đã bẻ ra, Chúa Giêsu nói: “Đây là Mình Thầy” (Mc 14. 22b). Thân thể chỉ con người trọn vẹn của Chúa trao ban cho nhân loại. Cũng một cách thế tương tự: “Đây là Máu Thầy” (Mc 14. 23a) Máu là chính sự sống (x. Lv 17. 11,14; Đnl 12. 23). Như thế, khi ban Mình và Máu, Chúa Giêsu ban cả con người và sự sống của Ngài để cứu sống nhân loại.

Thứ bánh đó chính là “Bánh trường sinh”, là Thân thể của Chúa, đã được bẻ ra chia cho các môn đệ và cho cả nhân loại hôm nay nữa. Thứ rượu mà Chúa đã trao là Nước vĩnh hằng, chính là “Máu” Chúa được đổ ra cho các môn đệ và cả nhân loại hưởng dùng. Như lời Chúa phán: “Thịt Tôi thật là của ăn và máu Tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu Tôi thật là của uống”(Ga 6, 55).

Lịch sử Việt Nam có kể rằng: Hoàng tử Duy Tân ra bãi biển nghịch cát. Nhìn bàn tay hoàng tử vấy bẩn, nhà vua suy nghĩ một hồi rồi quay lại hỏi các cận thần: “tay bẩn thì lấy gì mà rửa?” Các quan thưa: “lấy nước”. Vua hỏi tiếp: “thế nước bẩn lấy gì mà rửa?” Các quan lúng túng không biết trả lời thế nào, một lúc sau nhà vua nói tiếp: “nước bẩn thì lấy máu mà rửa”. Quả thật nhà vua đã đổi khái niệm từ nước sinh hoạt sang đất nước, ý nói rằng đất nước lâm nguy, giặc giã, nhơ bẩn, tham ô, hối lộ không thứ gì có thể rửa được, mà chỉ có sự hy sinh, đổ máu ra mới rửa sạch được.

Cũng như câu truyện trên, Thánh Phaolô nói về tội lỗi đã làm vấy bẩn và hủy diệt nhân loại, dẫn đưa con người đến sự chết và chỉ có Máu của Đức Kitô mới rửa sạch được mà thôi: “Đức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống” (Dt 9, 14).

Vì yêu thương Chúa đã trao ban Thân Thể Ngài để làm bánh trường sinh, Máu Ngài làm của uống vĩnh hằng cho chúng ta. Chúng ta không đón nhận Thịt Chúa “làm của ăn, Máu Chúa làm của uống, là chúng ta đã coi thường tình yêu của Chúa đã dành cho chúng ta, khi đó chúng ta sẽ chết vì đói, chết vì khát. Vậy để đáp lại tình yêu thương mà Chúa đã dành cho, chúng ta hãy siêng năng chạy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, đón nhận Mình và Máu thánh của Ngài làm của ăn, của uống nuôi dưỡng linh hồn ta. Để Thịt của Chúa ngấm vào cơ thể của ta, Máu Chúa lưu thông trong từng mạch máu của ta, làm cho chúng ta được sống mãi với Chúa, trong Chúa, bây giờ và cho đến muôn đời, như lời Chúa phán: “Thật Tôi bảo thật các ông, nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì được sống muôn đời và Tôi sẽ cho kẻ ấy sống lại vào ngày sau hết ” (Ga 6, 53-54).
 

Bài 19. THÁNH THỂ: BÍ TÍCH TÌNH YÊU
Anmai, CSsR

Mở lại lại chương 29 của sách Xuất Hành, ta sẽ bắt gặp được lời của Đức Chúa chỉ dạy cho dân Ngài về việc chọn lễ vật và làm như thế nào để làm lễ tạ tội, lễ toàn thiêu và thánh hiến.

Đức Chúa phán bảo: Ngươi sẽ dắt con bò đến trước Lều Hội Ngộ. Aharon và các con ông sẽ đặt tay lên đầu con bò. Ngươi sẽ sát tế con bò đó trước nhan Đức Chúa, ở cửa Lều Hội Ngộ. Ngươi sẽ lấy máu con bò, dùng ngón tay mà bôi vào các góc bàn thờ, và đổ tất cả máu còn lại xuống trên bàn thờ. Ngươi sẽ lấy tất cả lớp mỡ bọc ngoài bộ lòng, cả khối mỡ trên gan, hai trái cật với lớp mỡ dính ngoài, mà đốt cho cháy nghi ngút trên bàn thờ. Nhưng thịt, da và phân bò, thì ngươi sẽ bỏ vào lửa mà thiêu ở ngoài trại: đó là lễ tạ tội.

Lễ hỏa tế thì như thế này: Ngươi sẽ bắt một trong hai con cừu đực. Aharon và các con ông sẽ đặt tay lên đầu nó. Ngươi sẽ sát tế con cừu đó, lấy máu rảy chung quanh bàn thờ. Ngươi sẽ chặt nó ra làm tư, rửa bộ lòng và cẳng, rồi đặt lên bốn phần thịt và đầu con vật. Sau đó, ngươi sẽ đốt trên bàn thờ tất cả con cừu cho cháy nghi ngút. Đó là lễ toàn thiêu dâng lên Đức Chúa, hương thơm làm đẹp lòng Người, đó là lễ hoả tế dâng Đức Chúa.

Để thánh hiến thì: Ngươi sẽ bắt con cừu đực thứ hai. Aharon và các con ông sẽ đặt tay lên đầu nó. Ngươi sẽ sát tế con cừu đó, rồi lấy máu bôi vào trái tai phải của Aharon, vào trái tai phải của các con ông, vào ngón cái tay phải và ngón cái chân phải; rồi ngươi lấy máu còn lại rưới chung quanh bàn thờ. Ngươi sẽ lấy máu trên bàn thờ và dầu tấn phong rảy trên Aharon và phẩm phục của ông, trên các con ông và phẩm phục của họ; như thế, Aharon và phẩm phục của ông, các con ông và phẩm phục của họ, sẽ được thánh hiến.

Chúng ta thấy để làm lễ tạ tội, toàn thiêu hay thánh hiến thì Đức Chúa bảo dân dùng máu của lễ vật mà rảy một nửa trên dân, một nửa trên con vật mà đốt, mà rưới, mà xức…

Hình ảnh máu đó cho ta thấy rằng Thiên Chúa muốn ngài chung chia cùng một dòng máu để rồi từ dòng máu ấy Ngài ban ơn cứu độ cho con người. Một bằng chứng hết sức thiết thực đó chính là Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài xuống trần gian để sống cho con người và sống với con người. Thế nhưng, điều đáng tiếc đó là con người đã sát tế Chúa Giêsu như là sát tế con chiên hiền lành, con chiên vô tội vậy. Chúa Giêsu vì vâng lời Thiên Chúa Cha nên đã vui lòng đón nhận cái chết và chết trên thập tự. Máu của Ngài đã đổ trên bàn thờ thập tự để giao hòa giữa con người và Thiên Chúa và máu của Ngài là máu cứu độ.

Chính máu Chúa Giêsu là lễ toàn thiêu tuyệt vời nhất dâng lên Thiên Chúa Cha và Thiên Chúa Cha mãn nguyện lễ tế của người con duy nhất của mình.

Chuyện quan trọng, chuyện cần thiết Thiên Chúa mời gọi con người đó chính là con người nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất từ Thiên Chúa Cha và tin vào Ngài.

Chuyện đáng tiếc là với biết bao nhiêu kinh nghiệm thương đau trong cuộc sống, con người đã không nhận ra chuyện quan trọng mà Thiên Chúa mời gọi con người. Con người vẫn mãi sống trong tội của mình và rồi tự nhủ rằng con người dâng lên Thiên Chúa những hy tế do tay con người làm ra đủ để xóa tội cho con người nhưng con người đã lầm.

Chúa Giêsu làm lễ toàn thiêu để đền tội cho nhân loại, chỉ một lần là đủ. Máu Chúa Giêsu đã thanh tẩy tội lỗi, cứu độ con người. Con người không nhận ra sự vâng phục của Chúa Giêsu, con người không nhận ra máu châu báu của Chúa Giêsu đã đổ ra trên thập giá cũng như nuôi dân. Như dòng máu thông truyền trong lễ vật ở Cựu Ước thì Thiên Chúa muốn dùng dòng máu đó để thông truyền nơi con người, để nuôi con người. Con người bé cái lầm là tưởng dùng vật chất, tiền bạc để dâng lên Chúa sẽ được Thiên Chúa vui thích.

Thiên Chúa đã trả lời cho chúng ta qua ngôn sứ Isaia: «Ngần ấy hy lễ của các ngươi, đối với Ta, nào nghĩa lý gì? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy. Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm! (…) Thôi, đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghê tởm khói hương; Ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày sabát, ngày đại hội, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạc linh đình. Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta, Ta không chịu nổi nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu. Hãy rửa cho sạch, tẩy cho hết, và vứt bỏ tội ác của các ngươi cho khỏi chướng mắt Ta. Đừng làm điều ác nữa. Hãy tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình, sửa phạt người áp bức, xử công minh cho cô nhi, biện hộ cho quả phụ» (Is 1, 11-17).

Chính Đức Giêsu cũng nói: «Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế» (Mt 9,13; 12,7). Ngài đặt nặng tình yêu và sự hòa thuận đối với tha nhân hơn cả việc dâng của lễ toàn thiêu lên Thiên Chúa: «Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình» (Mt 5, 23-24).

Chúng ta vừa nghe : “Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại, trong ngày sau hết. Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con, và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6, 37-40). 

Như thế, ở đây, Chúa Giêsu tỏ mình một cách rõ ràng như Đấng Chúa Cha gửi đến để thông ban cho con người sự sống thần linh: một sự sống vĩnh cửu mà chính thân xác sẽ được liên kết nhờ sự phục sinh của nó vào ngày sau hết. Ý của Chúa Cha, là con người được sống, và sống toàn diện nhờ sự sống thần linh. Ý muốn này được khẳng định ở đây một cách mạnh mẽ. Đó là sứ vụ Chúa Giêsu phải hoàn tất, Ngài được sai đến vì sứ vụ này. 

Tất cả những gì Chúa Giêsu nói ở đây là một lời mời gọi hãy tin vào sứ vụ và con người Ngài như một năng lực của sự sống và sự phục sinh. Nói cho đúng, những lời này chỉ thể hiện trọn vẹn ý nghĩa của chúng trong ánh sáng Phục Sinh, trong sự rạng ngời của khuôn mặt đã huỷ diệt sự chết. Gioan viết Tin Mừng của mình trong ánh sáng phục sinh này, ánh sáng cho phép trình bày Chúa Giêsu như Đấng Chúa Cha uỷ thác chính năng lực sống và phục sinh của Ngài, “Chúa Cha làm cho kẻ chết chỗi dậy và ban cho họ sự sống thế nào, thì người Con cũng ban sự sống cho ai tuỳ ý” (Ga 5, 21). Này, “Như Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy” (Ga 5, 26). 

Chúa Giêsu đã thông ban sự sống cho con người và Chúa Giêsu muốn con người cũng sống tâm tình, thái độ như Chúa Giêsu. Ai nói mình có Chúa Giêsu trong đời mà không sống tâm tình mà Chúa Giêsu đã sống, đã mời gọi là người nói dối.

Những ai kết hiệp thật với Chúa Giêsu trong bàn tiệc Thánh Thể, trong Máu Thánh của Ngài sẽ không sống cho chính mình nữa nhưng sống trong Chúa và cho Chúa như Chúa đã sống cho và sống trong người Chúa đã thông ban sự sống, dòng máu đó.

Bàn Tiệc Thánh Thể, bàn tiệc Hy Tế của Chúa ngày mỗi ngày vẫn tái hiện trên bàn thờ lễ tế. Đáng tiếc thay ngày hôm nay con người đã không còn nhận ra Bí Tích Tình Yêu mà Thiên Chúa trao ban cho con người qua Chúa Giêsu. Con người ngày hôm nay đã đánh mất tình yêu ấy để rồi không còn sống cho Thiên Chúa và với Thiên Chúa mà chỉ vun vén cho chính bản thân mình thôi.

Trong thư gửi tín hữu Galát, thánh Phaolô viết, “Hiện nay tôi sống trong xác phàm là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2, 20). Ai sống một niềm tin như thế sẽ được nuôi sống thực sự bởi sự sống chịu trao nộp này; và này, không phải người đó sống nhưng Đức Kitô sống trong họ; người đó sống vận mệnh mình như một mầu nhiệm. Người đó mở lòng đón nhận một sự sống vốn vượt trên chính mình; đồng thời sự sống đó ban tặng chính Ngài cho họ cách sung mãn, bởi lẽ năng lực để người ấy được yêu mến và năng lực để người ấy tồn tại chỉ là một. Bấy giờ, không gì có thể đánh mất sức mạnh của chúng, vì những sức mạnh dục vọng và ham muốn được chạm đến bởi ánh sáng của một tình yêu như thế sẽ được ôm lấy và chính chúng lại trở nên những nguồn lực ánh sáng. Để diễn tả sự biến đổi này, chỉ có một từ: Phục Sinh. 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: Cv 10,2-26.34-35.44-48; 1Ga 4,7-10; Ga 15,9-17
CHÚA NHẬT V PHỤC SINH, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: Cv 9,26-31; 1Ga 3,18-24; Ga 15,1-8
Dân Do Thái là dân du mục. Cuộc đời họ gắn liền với đoàn vật và những đồng cỏ. Nên khi Đức Giêsu đưa ra hình ảnh người mục tử và đoàn chiên, người Do Thái hiểu ngay tức khắc. Đức Giêsu đã dùng hình ảnh quen thuộc ấy để nói lên mối liên hệ của ta với Người và của Người với ta. Người là Mục tử nhân lành. Ta là đoàn chiên của Người. Người lãnh đạo đoàn chiên không phải bằng uy quyền áp chế, bằng kỷ luật khắc nghiệt, nhưng bằng tình yêu tha thiết. Tình yêu của Người được biểu lộ qua ba khía cạnh: hiểu biết, quan tâm chăm sóc và hy sinh cho đoàn chiên. Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu hiểu biết. Sự hiểu biết này không phát xuất từ lý trí, do học hỏi, nhưng phát xuất từ trái tim, do tình yêu. Khi yêu, trái tim trở nên vô cùng nhậy bén đến độ hiểu được hết những âm thanh của tâm hồn và tai người thường không nghe thấy, nhìn thấy hết những gì ẩn kín trong tâm hồn mà mắt thường không nhìn thấy, cảm nhận được hết những chiều sâu thăm thẳm
Trước khi dâng mình cho Chúa, Thánh An-phong là một luật sư lỗi lạc. Ngài rất nổi danh vì tài hùng biện và vì lý luận đanh thép sắc ben. Nhờ tài ba, ngài đã thành công trong rất nhiều vụ án hiểm hóc. Nhưng một hôm, Chúa đã để cho ngài phải thất bại. Trong một vụ án mà ngài thấy là đơn giản, dễ dàng, ngài đã bị thua một cách thảm hại. Trước thất bai cay đắng đó, ngài thấy như cả bầu trời sụp đổ. Danh tiếng phút chốc tan như mây bay. Uy tín bị cuốn đi trong làn gió thoảng. Cả một màn đen tối u ám phủ xuống cuộc đời. Chẳng còn biết tìm an ủi ở nơi nào khác, thánh An-phong quay về bên Chúa, chìm đắm trong lời kinh cầu nguyện. Nhờ ơn Chúa, ngài tìm được niềm bình an. Hơn thế nữa, ngài nghe được tiếng Chúa mời gọi đi vào con đường Chúa muốn. Từ đó, ngài hiến thân trọn vẹn để phục vụ Chúa, ngài đã trở thành linh mục, giám mục và lập ra Dòng Chúa Cứu Thế. Sau này, khi nhìn lại, ngài hiểu rằng chính Chúa đã hiện diện trong nh
CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: 1Sm 3,3b-10.19; 1Cr 6,13c-15a.17-20; Ga 1,35-42
Đức Kitô đã sống lại thật – ViKiNi (Suy niệm của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm – trong ‘Xây Nhà Trên Đá’) 1. “Nếu Đức Kitô không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng. Và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. Thế ra chúng tôi là những chứng nhân giả của Thiên Chúa, như thế là chúng tôi chống lại Thiên Chúa” (1Cor. 15, 14-15). Thánh Phaolô thật rõ ràng, thật quả quyết về Đức Giêsu đã sống lại, nếu Người không sống lại thì Phaolô và tất cả các tông đồ, các tín hữu thời đó vừa phạm tội ác chống lại Thiên Chúa, vừa bị người đời bắt bớ, đánh đập, tù ngục và đóng đinh giết đi. Các tông đồ chịu chết vì điều giả dối đó để làm gì ? Để chịu khốn nạn hơn hết mọi người sao ? Và giả dối thì tất nhiên, Giáo hội không thể xuất hiện và tồn tại bền vững cho đến ngày nay được.
Thánh lễ hôm nay rất ý nghĩa cho giới trẻ. Trong ngày Lễ Lá, biết bao thanh thiếu niên ra đón mừng Chúa. Cả một bầu khí trẻ trung, hăng say, kính mến. Sự trẻ trung bột phát qua việc cầm cành lá, qua lời tung hô đón chào Chúa. Thật là một bầu khí cuồng nhiệt. Giới trẻ Do thái lúc ấy biểu lộ lòng kính mến thật hồn nhiên, thật dễ thương. Không khác gì giới trẻ chúng ta hôm nay. Nhưng thanh lễ hôm nay cũng khiến ta phải suy nghĩ không ít vì những biến cố quá trái ngược. Chúa vừa vinh hiển vào thành chưa được bao lâu đã phải tủi nhục chết trên thập giá. Tại cổng thành có biết bao người ra chào đón tung ho, nhưng trên Núi Sọ chẳng còn mấy người theo Chúa. Từ chúa nhật Lễ Lá đến thứ Sáu tuần thánh thời gian không dài, nhưng biết bao người đã thay lòng đổi dạ. Từ cổng thành đến Núi Sọ đường đất không xa, nhưng biết bao người đã rẽ đường, đi ngang, về tắt. Tại sao thế?
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY, NĂM B Các bài suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: Gr 31,31-34; Dt 5,7-9; Ga 12,20-33
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY, NĂM B Các suy niệm & chú giải Lời Chúa Lời Chúa: 2Sb 36,14-16.19-23; Ep 2,4-10; Ga 3,14-21
Đức Giêsu đã thanh tẩy Đền thờ. Người muốn ta hãy tiếp tục công việc của Người. Giữ gìn cho nhà thờ luôn sạch đẹp, có bầu khí tôn nghiêm là điều cần thiết. Nhưng cần hơn vẫn là giữ gìn ngôi Đền thờ thiêng liêng là chính bản thân ta. Tâm hồn chính là cung thánh nơi Chúa ngự. Ta phải luôn luôn thanh tẩy tâm hồn để xứng đáng với Chúa. Hãy thanh tẩy tâm hồn khỏi thói tôn thờ tiền bạc, coi trọng tiền bạc hơn Chúa. hãy thanh tẩy tâm hồn khỏi những dục vọng đam mê làm ô uế cung thánh của Chúa. Hãy thanh tẩy tâm hồn khỏi thói gian tham, bất công. Hãy thanh tẩy tâm hồn ta khỏi những kiêu căng đố kỵ. Thân xác ta là Đền thờ của Chúa
Bảo Trợ