Tắm mưa, tắm ao.

06 Tháng Mười Hai 20123:00 CH(Xem: 1967)


Hương đồng quê - Tắm mưa, tắm ao.

 

“Trời mưa bong bóng phập phồng…” (cadao)

Cha mẹ ra đồng, con cởi áo tắm mưa!

 blank

Cái thú cởi truồng tắm mưa có lẽ không ấu thiếu nhi nào mà không thích, không một lần vui đùa dưới máng xối sau nhà trong cơn mưa tầm tã suốt ngày!

 

Chừng năm sáu tuổi là các cô cậu đã có thể “được phép” tắm mưa rồi, nhỏ thì quanh quẩn trước sau sân nhà, còn lớn hơn chút nữa thì có thể chạy qua nhà bè bạn, chạy ra sân trường, sân nhà thờ, có khi còn cầm theo quả banh để đùa giỡn nữa. Lắm khi cha mẹ dặn ở nhà không được ra ngoài trời mưa kẻo mà cảm lạnh, nhưng “phép vua thua lệ làng”! Cha mẹ đi ra ruộng rãy rồi, mưa rì rào hấp dẫn thế làm sao mà “khỏi sa chước cám dỗ được”! Nhất là lại có vài đứa chạy qua nhà kêu ơi ới nữa! Có bị đòn rồi thì vài bữa lại quên, rồi lại dầm mưa đùa giỡn, thấy có cảm cúm chi mô!

 

Có khi tan học buổi chiều, trời mưa không về được, vài đứa bạo gan rủ nhau cởi áo ra tắm, thế là thêm mấy đứa nữa cũng hùa theo nhập bọn. Cha mẹ hay anh chị mang áo mưa tới đón con em về thì thấy còn chạy lông nhông trước sân trường, mặc dù sách vở vẫn “khô rang” nhưng về nhà rất có thể được “ăn cháo lươn” cho ấm bụng lắm!

 

Cái thú tắm mưa chỉ có vào mùa mưa, nhưng mùa nắng thì các cô cậu cũng vẫn tìm được chỗ để vùng vẫy cho “thoả chí tang bồng”: tắm ao, tắm hồ hay tắm khe! Làng Ba, khoảng năm Sáu Mươi… Mấy, ngoài cổng Qui Hậu có một chỗ tắm rất lý tưởng, đó là ao cố Đông, có lẽ đây là một vũng bom ngày xưa. Rất lý tưởng vì chỉ chạy chừng mười phút từ cổng nhà thờ là tới nơi. Tha hồ vùng vẫy, ao cũng khá to và không sâu lắm, đủ cho cả lũ nhóc đến choai choai tắm thoải mái.

 

Hồi đó tám chín mười tuổi, trai gái rủ nhau năm bảy đứa đi tắm ao, tắm hồ là chuyện thường, chẳng có chi là mắc cở, rầy rà gì! Lắm khi có đứa nghịch, lên trước vơ cả đống quần áo xáo trộn lung tung, báo hại các cô cậu sau khi tắm thoả thích lên bờ, đứng tồng ngồng tìm bới quần áo của mình!

 

Xa hơn chút nữa thì có hồ ông Tư Giao phía ngoài cổng chính làng Ba. Ông Tư Giao, người Nam có một cái đồn điền trồng cam quít. Ông xây một cái hồ nhỏ dưới dốc chặn mạch nước để giữ nước tưới cây, hồ chỉ chừng bảy tám mét vuông, nhưng nước trong vắt, các cậu có khi nhắm chừng không có chủ ra bèn nhảy vào trong hồ tắm luôn, sau này Ông Tư lấy kẽm gai rào trên mặt hồ lại, lũ nhóc đành đứng ngoài tắm dưới cái vòi xả nước tràn. Thích nhất là sau khi tắm thì “loi nhoi” tìm được vài trái cam hay quít hay vú sữa trong vườn để giải khát.

 

Sau năm 1975, thì chính nơi này được Ủy ban Xã Bình Giã cho phát động công trình “thuỷ lợi”, thanh niên được phân công đào một cái hồ lớn để trữ nước tưới cho đồng lúa, nhưng có lẽ nó chỉ “hại thổ” mất ít đất làm hồ, chứ ruộng đồng làng Ba lúc đó cần chi nước từ hồ này. Mùa mưa thì nước chảy không kịp có khi cấy lúa còn bị ngập, còn mùa nắng cả cánh đồng như thế mà có ngần ấy nước thì chỉ cầu may "đủ cho bò uống" nói gì làm lúa thần nông hai vụ! Có cái lợi trước mắt là thanh thiếu niên lại thêm một chỗ tắm, và cái mục này thì các cậu rất khoái. Mùa nắng, chiều chiều trước lúc dẫn bò về ghé qua hồ, bò thì uống nước người thì bơi một vòng cho mát mẻ. Chủ nhật chẳng biết đi đâu, rủ nhau ra hồ tắm cho hết ngày.

 

Phía sau cổng Xuân Mỹ là đồn điền Cà phê ông Ba Xương, cũng là một người Nam, đồn điền cà phê này rất rộng lớn, ngoài cà phê còn có trồng mít xen lẫn trong cà phê, có thêm một ít cam quít bòng xoài nữa. Phía cuối đồn điền có một cái hồ xây, hồ này đúng là hồ tắm, có lẽ mấy ông Tây hồi xưa xây để tắm rồi một công đôi chuyện lấy nước tưới cà phê con, vì hồ được xây tương đối lớn có bậc cấp lên xuống, có độ nông sâu, nên cỡ nào cũng xuống tắm được. Hồ lại xây kề bên mấy mạch nước chảy vào hồ nên nước hồ luôn trong và sạch sẽ, mặc dù sau này hồ có nứt bể chút ít, có bùn đọng ở đáy nhưng còn tốt chán cho thanh thiếu niên bơi lội, vui chơi.

 

Rất nhiều thế hệ trẻ làng Ba “học môn bơi” ở cái hồ này. Ngày chủ nhật thì hồ có khi “quá tải”, những lúc đó các cậu rủ nhau đi tìm mít chín, hay leo lên mấy cây xoài, vú sữa “lót lòng” trong khi chờ đợi! Phải nói hồ cà phê ông Ba Xương là một địa điểm lý tưởng cho các cô cậu thời đó vui chơi, vừa có chỗ tắm mát vui chơi, vừa tìm được ít “cây nhà lá vườn” để no bụng!

 

Đi ra cổng Yên Đại vào phía xóm “Rọng Tre” thì có hồ Mên, có tên gọi như vậy có lẽ hồ do mấy người Thiểu số làm chủ. Hồ này thì chỉ có nước vào mùa mưa, vì đúng ra đây là một đám ruộng sâu rất lớn, chỗ trũng ở giữa ngập nước cả mét và rộng cả sào, tôm cá cũng nhiều. Các cô cậu đi bò sau phía Bình Thuận, Yên Đại thì chẳng lạ gì hồ Mên này. Vừa có chỗ cỏ xanh tươi quanh năm cho bò gặm, vừa rộng rãi vui chơi, vừa tắm mát nữa!

 

Ở ngay cầu làng Một, có một con suối do nước từ đồng ruộng chảy về, ngang qua con đường cái, nơi đó cũng là một địa điểm các cô cậu tắm mát. Mỗi lần có dịp đi Bà Rịa về, ngang qua cây cầu đó là thấy dân đi bò đang vùng vẫy vui chơi. Có anh chạy xe Honda ra đó để “tắm rửa” cho xe mát mắt mới mẻ chút nữa! Cây cầu này bây giờ đã “lên đời” xi măng cốt thép chắc chắn, chứ hồi đó bằng gỗ coi bộ ọp oẹp lắm, vậy mà nước mùa mưa chảy cuồn cuộn nó vẫn vững vàng suốt mấy mươi năm. Tuy vậy, mùa mưa đường bùn lầy, ổ gà ổ vịt nơi khúc cầu gỗ, có lúc xe đi qua cầu bà con chắc không ai khỏi thì thầm khấn xin, còn tim thì chỉ chực nhảy ra khỏi lồng ngực!

 

 Đi Bà Rịa hay Vũng Tàu về, nghe nói xe chạy tới cầu Làng Một rồi thì coi như sắp sửa tới nhà. Nhìn ra qua cửa xe thấy dân đi bò bơi lội vùng vẫy reo hò, nước văng tung toé! Chạy thêm chút nữa thấy cái bảng chào mừng và cổng vào Xã Bình Giã.

 

Sau năm 1975, bà con phát rừng làm rẫy, có một vài địa điểm được thanh thiếu niên chiếu cố, thác Ông Giáo ở phía vùng rãy Nhân Hoà cũng rất đẹp, thác nước không lớn lắm, nhưng ở vùng Bình Giã thì như thế là thấy “mát mắt” rồi, rất nhiều người đã đến đây tắm mát vui chơi. Địa điểm thứ hai là vùng đất Xuân Sơn, dân khắp nơi về canh tác, khai phá rừng quanh đó rồi “phát hiện” ra thác Xuân Sơn và mau chóng được các thanh thiếu niên Bình Giã “hưởng ứng”. Nếu nói đến cảnh đẹp thì thác Xuân Sơn là số một, vùng thác nước đổ xuống rộng lớn trải dài, cây cối um tùm rất tiện lợi cho “picnic” vui chơi. Mặt thác ghập ghềnh những đá trơn trợt, nhưng có hề gì cho lớp trẻ, có chỗ vui chơi, hẹn hò dẫn bồ đi chơi là quá tốt rồi, nhất là cây cối rậm rạp có vẻ đồng loã với anh chị nữa! Tha hồ mà “rù rì tìm hiểu” nhau chẳng ai để ý!

 

Dạo đó, ngay cả các đoàn thể như Thiếu nhi, Thanh niên, Con Đức Mẹ hay các nhóm lớp trường học ở Bình Giã, Xuân Sơn, Hoà Bình… cũng tổ chức picnic vào dịp Tết, ngày Chủ nhật, ngày lễ nghỉ ở thác Xuân Sơn. Đường đi vào có khó khăn vì là lối mòn, gốc cây lởm chởm, bụi đất đỏ mù mịt, nhưng có can chi! Chưa kể vào tới nơi nếu đi không đúng lối mòn thì phải chui rúc qua những đám cây đủ thứ chằng chịt!

 

Chẳng có hàng quán gì nơi bìa rừng này, nên thức ăn, nước uống phải mang theo, thế cũng tiện cho dân ta đâu có dư giả gì. Nấu nồi cơm nếp, dăm ký bánh mướt, vài nải chuối mang theo, hay mua ít bánh mì thịt, làm thùng nước chanh…thế là sau vài ba giờ vui chơi, bơi tắm ngồi lại cùng nhau hát hò ăn uống, nghỉ ngơi giữa rừng núi thiên nhiên! Thấy vui chi lạ!

 

Xe Honda có, xe đạp có, xe bò có, xe cày xới cũng có, tất cả đổ xô vào thác để “chiêm ngưỡng” cảnh đẹp thiên nhiên hung vĩ vùng Xuân Sơn. Chỉ tiếc là những người làm “cha mẹ dân” không để ý đến “của trời cho”, nên không có kế hoạch chăm sóc bảo tồn, có lẽ bây giờ thì thác Xuân Sơn trơ trụi cây cối như cổ gà chọi rồi!

 

Tắm hồ, tắm ao một thời, rồi theo thời gian hồ tàn ao cạn, phải đi tìm chỗ nước non cảnh đẹp hơn! Dân mình ở cũng không xa bờ biển chi mấy, nên lâu lâu các đoàn thể, hay các nhóm cũng rủ nhau “đổi không khí”, “đổi nước” thuê bao xe để ra Vũng Tàu, Long Hải cho biết mùi vị nước biển, nốt tiện gội rửa ít đất đỏ đeo bám chân cẳng quanh năm!

 

Hay thật! Hồi nhỏ cởi truồng chạy lông nhông tắm mưa, rồi tự nhiên bơi lội theo tư thế con cháu “Adong Evà” ở các ao hồ…, vậy mà ra đến Vũng Tàu, Long Hải thấy các nam thanh nữ tú ở đây ăn bận đồ tắm hai ba mảnh, trông đẹp, hấp dẫn chứ có gì đâu, nhưng nhìn thấy sao mà mắc cở, họ đâu có “chuổng cời” như mình hồi trước, kín đáo chán đi chứ! Mấy chỗ “quan trọng” họ che kín hết rồi!

 

Các cô dân mình lúc ban đầu ra tắm biển nhìn thấy vậy đỏ mặt “bèn tự nhiên” để nguyên quần áo đồ bộ nhào xuống nước cho chắc ăn! Sau này một thời gian quen “nước” lại quay ngược ba trăm sáu mươi độ, nếu mà cứ đồ bộ xuống nước thì quê quá, vậy là mấy tiệm cho mướn đồ tắm bãi biển mới bắt đầu “moi” được tiền dân Bình Giã mình! Có cô còn cẩn thận mua trước cho mình vài bộ đồ tắm ra đó khỏi thuê, vừa không bị “chém” đẹp vừa phòng ngừa “sida”! Còn các cậu thì thoải mái, hồ hay ao hay ra đến biển thì cái quần cụt coi như “đa dụng”, miễn là cụt, còn quần soọc hay quần cụt thường thì chẳng chết chóc chi!

 

Ra đến biển gặp ngày lễ nghỉ, người thì đông như kiến, lớp đứng tênh hênh trên bãi, lớp ngồi xoặc cẳng nơi mấy cái ghế có dù che hơi đâu ai để ý đến ai, có để ý là để ý mấy “vùng đồi núi chập chùng” thôi chứ ai đâu mà biết ai! Vậy nên mới có anh bạn "tức cảnh sinh bài thơ":

 

Bãi biển chiều nay thật lắm dù,

Người thì lặn ngụp, kẻ ngao du.

Hả hê các cậu ngồi xem bụng,

Tủm tỉm mấy nàng đứng ngó “c…”!

Chen chúc trên bờ, hở cả vú,

Loi nhoi dưới nước, lòi nguyên “m…”!

Nhiều cô phơi nắng nằm giang cẳng,

Thiên hạ chẳng màng kẻ tĩnh tu!

 

Ao hồ khe suối bây giờ hầu như đã khô cạn hết, còn đâu để nhìn lại những “dấu tích tuổi hồn nhiên”! Chỉ có mưa nắng thì vẫn hai mùa xoay vần theo năm tháng, và biển thì ngàn năm vẫn nằm đó cho thiên hạ vùng vẫy vui chơi!

 

Nhưng nói cho cùng, tuổi thơ tắm mưa, tắm ao hồ thật là những kỷ niệm khó quên trong đời!

 

Đặng Xuân Hường.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
sach-0-thumbnail
Cuối bài trước, tôi có viết: Một cuộc hội thảo về văn học miền Nam 1954-75 sẽ được tổ chức tại California vào tháng 12 năm nay khá muộn màng nhưng, dù sao, cũng hơn là không có gì cả.
nusinh-thumbnail
Học trò ngày xưa là mảng đề tài được khai thác rất “kỹ” qua văn chương, âm nhạc, hội họa. Vào thập niên 70, bản nhạc “Ngày Xưa Hoàng Thị” [1] của Phạm Duy, phổ thơ Phạm Thiên Thư [2] trở thành nổi tiếng với một mối “tình học trò”.
van-hoc-thumbnail
Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, từ đầu thế kỷ 20 đến nay, có lẽ không có giai đoạn nào chịu nhiều bất hạnh như giai đoạn từ 1954 đến 1975 ở miền Nam. Theo nhà văn Võ Phiến, đó là nền văn học được đánh dấu bằng hai cuộc di cư: một, cuộc di cư của gần một triệu người từ Bắc vào Nam;
dicu954-content
Ngày ký Hiệp Định Geneve 21 tháng 7, 1954, tôi còn ở quê nhà Đồng Văn, và học khóa hè ở trung học Phủ Lý, cả hai nơi đã nằm dưới sự kiểm soát của Việt Minh, chỉ mới vài tuần lễ.
hanoi-xua-content-thumbnail
Vào giữa năm 1953, là thời điểm cao nhất Hà Nội Hải Phòng nổi bật một số ít các nhà văn trẻ, có lối viết khác Tự Lực Văn Đoàn, Lê Văn Trương hay Nguyễn Tuân, như Hoàng Công Khanh với vở kịch thơ Bến Nước Ngũ Bồ, Sao Mai với truyện Nhìn Xuống, Trúc Sĩ với Kẽm Trống
tkimtien-0-thumbnail
Khi chảy qua Hà Nội, sông Hồng mặc áo dài hồng đào đi tết biển Đông. Nước ta trên bản đồ thon dài, nửa như cánh võng mắc trên bờ Thái Bình Dương, nửa như một tia chớp trên bầu trời nhân loại.
truong-lang
Nói đến ngôi trường làng, lớp trẻ bây giờ và có lẽ lớp tuổi trên dưới năm mươi ở Bình Giã mấy mươi năm trước, không ai là không một thời cắp sách đến ngôi trường làng.
mua-buo62n
Tháng Năm âm lịch, tháng của những cơn mưa nhiệt đới tầm tã ở miền Nam. Hồi nhỏ tôi mê nhất cái tháng Năm này, là bởi vì tháng này là tháng nghỉ hè, tháng có tết Đoan ngọ, và cũng là tháng có nhiều trái cây ngon nhất.
ho-guom-ha-noi-thumbnail
Chỉ còn vài tuần lễ nữa là đúng 60 Năm Ngày Chia Cắt Đất Nước: 20 tháng 7, 1954. Bài viết này xuất hiện vào tháng 6, chính là thời gian mọi sự đang được xếp đặt tại các thủ đô lớn của thế giới, nhất là tại Genève, để đi đến thời điểm đau thương kia
bantre-us
Trong lịch sử, giai cấp công nhân từng được trao sứ mệnh tiên phong và nòng cốt trong đấu tranh giai cấp, giải phóng dân tộc. Ngày nay, khi đất nước bước vào nền kinh tế thị trường, việc mở cửa ngoại giao với các nền kinh tế khác trên thế giới đã làm thay đổi sứ mệnh lịch sử ấy